Thượng Minh - Vùng đất báo chí cách mạng
Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, xã Mỹ Phương (huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn; nay thuộc xã Thượng Minh, tỉnh Thái Nguyên) từng là một trong những căn cứ quan trọng của báo chí cách mạng.
Ở những bản làng như Bản Hậu, Khuổi Khún hay trên các triền núi cao như Vằng Kheo, Píc Cáy, đồng bào Tày, Dao phần lớn chưa biết chữ nhưng vẫn một lòng che chở, nuôi giấu và hỗ trợ những người làm báo.
Chính sự đùm bọc ấy đã góp phần giúp các ấn phẩm như: Cứu Quốc, Cứu quốc Việt Bắc, cùng các tờ Tin tức Bắc Kạn, Bắc Kạn thông tin… trở thành vũ khí tuyên truyền hiệu quả, đóng góp thiết thực vào thắng lợi của cuộc kháng chiến.

Chủ nhiệm Xuân Thủy (quàng khăn) cùng các đồng nghiệp Báo Cứu Quốc tại Việt Bắc. Ảnh T.L
Cuối tháng 6-1947, Báo Cứu Quốc chuyển từ Tuyên Quang lên Bắc Kạn. Công việc chuyển thiết bị máy in, toàn bộ kho dự trữ giấy và vật tư được thực hiện rất khẩn trương với hàng chục chuyến ô tô, kéo dài mấy tuần liền. Hành trình dài, vất vả, gian nan hơn trước nhiều.
Khi mới đến bản Khuổi Khún, xã Mỹ Phương, có những tối, cả cơ quan kéo nhau lên nương, trên sườn núi, chùm chăn dựa vào gốc cây ngủ ngồi.
"Có lần giữa ban ngày nghe tiếng súng gần quá, mọi người đang làm việc vội thu dọn để chạy. Đã phân công trước, đồng chí Trần Đình Thọ vác hòn đá in li-tô, đồng chí Cảnh mang máy chữ, đồng chí Tiêu mang đài thu thanh, những đồng chí khác mang đồ dùng, sổ sách, tài liệu... Chạy được một quãng, giấu vội các thứ vào bụi cây ở chân núi, mọi người leo ngược lên dốc. Một lát chúng quay ra. Cơ quan Báo Cứu quốc lại xuống núi trở về". (Trích “Hồi ký báo Cứu Quốc 1942 - 1954” của nhà báo Nguyễn Văn Hải).
Trong hồi ký của mình, nhà báo Xuân Thủy kể về một lần "chạy giặc" ở đây như sau: "Hai người (nhà báo Xuân Thủy và đồng chí bảo vệ) cứ đi, loanh quanh đến quá 12 giờ trưa mà không tìm được lối ra, cứ leo hết dốc núi này lại đến ngọn đồi khác. Chiều đến, vừa đói, vừa mệt, hai người đành đi hái ổi xanh để ăn. Gió hiu hiu, nằm trên bãi chúng tôi thiếp đi một giấc ngon lành. Khoảng bốn giờ chiều, tôi trở dậy, thấy quần áo mình đỏ lòm, thì ra vắt đã chui vào người cắn no nê. Xuống suối giặt quần áo, tắm rửa, rồi lại tiếp tục đi...".
Khoảng cuối tháng 10 năm 1947, Báo Cứu Quốc Trung ương chuyển về căn cứ Khu 12 (Bắc Giang). Tuy nhiên, trước yêu cầu đẩy mạnh công tác tuyên truyền, tổ chức đồng bào Việt Bắc trực tiếp tham gia chiến đấu, một tờ báo mới – Cứu Quốc Việt Bắc đã được thành lập để phát hành tại ba tỉnh Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn. Nhiệm vụ này được giao cho các nhà văn Nam Cao, Tô Hoài và họa sĩ Trần Đình Thọ đảm trách.
Tô Hoài phụ trách chung, đồng thời làm Bí thư chi bộ của tờ báo. Nguyễn Bá Lợi lo công tác quản lý. Nam Cao gần như đảm nhiệm toàn bộ công việc tòa soạn, còn họa sĩ Trần Đình Thọ kiêm luôn vai trò “nhà in”, từ viết chữ đến lăn đá in li-tô. Nguyễn Tiêu phụ trách “điện đài”, tức là theo dõi, ghi chép tin tức qua chiếc radio chạy pin. Các công việc đánh máy, in ấn, sửa bản in do Sáu Hồng và Phúc Mơ đảm nhiệm.

Rừng trúc Phiêng Phàng, xã Thượng Minh, tỉnh Thái Nguyên.
Tại địa phương, ông Hứa Văn Toàn (1911–1997), Chủ nhiệm Việt Minh xã, người ở Bản Hậu, đã hỗ trợ để họ hòa nhập với đời sống đồng bào, từ quần áo chàm, túi chàm đến mũ nồi chàm. Ông còn cử thanh niên Nông Văn Mộc (1929–1999) làm liên lạc cho tòa soạn; mỗi tối, anh Mộc lại dạy thêm tiếng Tày cho anh em làm báo.
Theo Nhật ký ở rừng của Nam Cao, ngày 19/10/1947, tòa soạn chuyển lên Cốc Phường, sau đó di chuyển sang Vằng Kheo. Đến ngày 1/12/1947, cơ quan lại trở về Cốc Phường và Thôm Phạ (nay thuộc thôn Bản Hậu) để tiện hoạt động.
Tại đây, “tòa soạn” đặt trong một lán ở đầu nguồn khe Cốc Phường, còn chiếc máy in mi-néc hai bát chữ đạp chân được đặt tại Thôm Phạ. Kho giấy ở gần đồn Phủ Thông, thỉnh thoảng được bà con người Dao ở Cốc Phường bí mật vận chuyển về từng bó. Dù điều kiện khó khăn, tờ báo vẫn duy trì xuất bản đều đặn, mỗi tuần ba số.
Ở Bản Hậu, ngoài công việc chuyên môn, những người làm báo còn tổ chức các lớp học, lớp huấn luyện cho anh em trong cơ quan. Dù phải đối mặt với khí hậu khắc nghiệt, đời sống thiếu thốn, xa gia đình và quê hương, họ vẫn gắn bó, lạc quan.
Người dân quanh vùng cũng tin tưởng, gửi con em đến học chữ, học nghề, góp phần tạo nên một môi trường vừa làm báo, vừa học tập, đầy nghĩa tình trong những năm tháng kháng chiến.
Tô Hoài kể: “Mỗi tờ báo Cứu quốc Việt Bắc khuôn khổ bằng nửa tờ báo Nhân dân bây giờ, gấp đôi thành hai trang nhỏ, có mặt in tiếng Tày, dịch một số bài tiếng phổ thông trang bên. Số báo ấy, Nam Cao viết một bài ca dao cổ động đoàn kết kháng chiến.
Tối hôm qua chúng tôi đọc lại, cho là được. Chú Mộc đi công tác về, đến lượt chú Mộc "duyệt". Nhiều chữ chú lắc đầu, Nam Cao cắt nghĩa lại, chú Mộc vẫn không hiểu. Tay Nam Cao cầm bút chì, nhắc lên nhắc xuống mấy lần vẫn không chữa, không thay được chữ nào. Sau cùng, Nam Cao nghĩ được một cách:
- Thôi, chú cứ đem nguyên bài thế này đến nhờ đồng chí Nông Quốc Chấn xem cho thế nào.
Chú Mộc ở lại đấy đợi để lấy cả bài dịch, hôm sau về tới đầu lán, Mộc đã reo to:
- Thơ anh Hữu hay quá, hay quá.
Chắc Nông Quốc Chấn cũng bằng lòng. Chúng ta hãy thắp nén hương tưởng nhớ Ma Văn Hữu (bí danh của Nam Cao). Tôi xin chép bài thơ Khu Ba tặng quà Việt Bắc của Nam Cao:
“Đường xa thì thật là xa
Yêu nhau trân trọng gửi quà tặng nhau
Miền xuôi miền ngược là đâu
Ngược xuôi khăng khít như trầu với vôi
Trầu có vôi cho môi tươi đẹp
Bể với rừng chung sức dẹp Tây
Tình rừng nghĩa bể nặng thay
Yêu nhau ta hẹn đến ngày thành công"
Ngoài ra, gần đó còn có cơ quan Ty Thông tin Bắc Kạn ở bên thác Tát Nghiều cũng ra tờ báo Tin tức Bắc Kạn với số lượng phát hành 16.000 tờ. Sang năm 1949, cùng với tờ Tin tức Bắc Kạn, Ty Thông tin còn phát hành thêm tờ Bắc Kạn thông tin, hai báo này mỗi tuần ra một số “được phổ biến đi các nơi, mỗi kỳ 300 bản”.

Đồng bào Dao nuôi cá tầm ở Thượng Minh.
Nhà thơ Nông Quốc Chấn, Trưởng Ty Thông tin Bắc Kạn thường gặp Nam Cao, Tô Hoài, trao đổi thân thiết. Nông Quốc Chấn dịch ra tiếng Tày ca dao của Nam Cao viết trên báo, Nam Cao và Tô Hoài góp ý với Nông Quốc Chấn về dàn truyện thơ "Việt Bắc tức slấc" (Việt Bắc đánh giặc).
Trong một cái lán nhỏ bên dòng thác Tát Nghiều ở Bản Hậu, lưng chừng núi Cứu Quốc, mười ngày đêm liền, Nông Quốc Chấn đã viết xong "Việt Bắc đánh giặc" - tác phẩm thơ dài đầu tiên của ông. Trong đó có đoạn Bộ đội ông Cụ nhanh chóng thành bài thơ nổi tiếng được chọn in ngay vào Tuyển tập Thơ văn cách mạng và kháng chiến của Hội Văn nghệ Việt Nam xuất bản năm 1949. Cũng tại đây, nhà thơ đã sáng tác bài "Khâu áo" rất nổi tiếng:
Khi nghe gió thổi qua Phja Bjoóc
Em biết mùa thu đã hết rồi.
Từ những dấu ấn ấy, có thể thấy, một số thôn bản nói trên ở xã Thượng Minh xứng đáng được xem là một trong những địa chỉ của báo chí cách mạng. Việc nghiên cứu, lập hồ sơ xếp hạng di tích lịch sử cho địa phương này là cần thiết.
Nếu được công nhận, nơi đây sẽ trở thành “địa chỉ đỏ” để các thế hệ người làm báo tìm về, tri ân lớp người đi trước, đồng thời nhắc nhở những người làm báo hôm nay tiếp tục gìn giữ và phát huy truyền thống đáng tự hào ấy.











