Thưởng thức tiểu luận, phê bình của nhà thơ Ngô Minh
Ngoài tên tuổi của một nhà thơ chuyên nghiệp có tiếng, Ngô Minh còn là tác giả nhiều tác phẩm văn xuôi từ bút ký, phóng sự cho đến tiểu luận, phê bình và chân dung văn học. Trong khuôn khổ bài viết này, chúng tôi muốn dành riêng cho việc thưởng thức tiểu luận, phê bình của một nhà thơ Quảng Trị.
Có lẽ vì là một nhà thơ đích thực, nên mối quan tâm đầu tiên của thi sĩ Ngô Minh là về thơ. Ông viết nhiều tiểu luận về thơ khá hay và thuyết phục, như: Thơ-gieo và gặt; tản mạn chuyện “làm thơ”; đôi điều về thơ Việt hôm nay; những sự lạ trong làng thơ Việt; vài suy nghĩ về thơ mới; ai mua thơ tôi bán thơ cho; lời mẹ dặn; tuyên ngôn của người cầm bút…

Tác phẩm tiểu luận, phê bình của tác giả Ngô Minh - Ảnh: P.X.D
Trước hết, khi chưa bàn đến các khía cạnh cụ thể, nhà thơ nói đến tính đa diện, đa thanh, đa sắc…của thơ cũng như sự phong phú và khác biệt của mỗi người cảm nhận thơ. Đó quả là câu chuyện nhiều ngóc ngách, cung bậc và thực sự vi tế, lắm lúc cũng rắc rối. Nhà thơ Ngô Minh luận rằng: “Bàn về thơ thật khó thống nhất, bởi thơ còn có cái gu nữa. Cái tạng tôi thích buồn trầm lặng, tạng anh lại say yêu bạo liệt, nhiệt cuồng. Có người thì thích ý cho rõ, có người lại muốn thơ phải nhòe mờ, không rành mạch! Thế nên mới có bài thơ người này thì khen, kẻ khác lại chê. Đó là chưa nói đến các khía cạnh thuộc về các “chức năng văn học” của thơ (như người ta thường dạy trong sách). Nói đến còn đa sự nữa” (Thơ-gieo và gặt).
Lĩnh vực văn nghệ nói chung và thi ca nói riêng vốn đa dạng, đa nghĩa, lung linh nhiều vẻ, lại phụ thuộc thị hiếu thẩm mỹ của từng người, từng lớp người, nên cũng có nhiều tác phẩm rất khó trong phê bình, thẩm định, nhất là không dễ tìm được tiếng nói chung. Bởi vậy, người xưa thâm thúy khi nhận định thơ là nằm giữa ranh giới: “khả giải” (có thể giải thích) và “bất khả giải” (không thể giải thích). Vì thế nói đến chuyện đọc thơ, cảm thơ, hiểu thơ và đánh giá về thơ không ít trường hợp thật phức tạp.
Nhưng dù vậy, vẫn có những điểm cốt lõi để nhận diện thơ hay, và nhà thơ mà mong mỏi như nhà thơ Ngô Minh cũng đã được nhiều người đồng thuận: “Ôi, thơ hay thì không thể cầu xin. Ai dám nói là mình sẽ làm được những bài thơ hay! Thôi thì hãy nói với nhau một câu: Hãy viết cho chân thật, “chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài”. Cái thật là khởi đầu của cái hay vậy!”.
Trong một bài viết khác “Tản mạn chuyện “làm thơ”, nhà thơ từ kinh nghiệm cá nhân, nói đến một khía cạnh của lao động thơ, đó là sự vất vả, chọn lọc trong thể hiện ngôn từ: “Có một nguyên tắc làm thơ là phải kiệm lời, phải gạch bỏ hết những câu thừa, chữ thừa, như thế bài thơ, câu thơ mới tinh luyện. Nhà thơ Chế Lan Viên gọi làm thơ là luyện chữ. Phải luyện hàng tấn quặng chữ mới được một câu thơ! Thơ súc tích mới “ý tại ngôn ngoại” được”. Nếu đúng như vậy thì việc làm thơ đúng nghĩa thật chẳng nhẹ nhàng gì, nếu không nói là ngược lại mới phải.
Khi đi vào nhận định, phân tích tác giả, tác phẩm cụ thể, nhà thơ Ngô Minh cũng là người đọc nghiêm cẩn, rất có trách nhiệm và cả sự trân quý với những nhà thơ mà mình đã cảm nhận, như với các nữ thi sĩ Lâm Thị Mỹ Dạ, Đông Hà hay với Huỳnh Văn Nghệ, Phùng Quán, Thanh Hải, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nguyễn Khắc Thạch…Với bạn thơ Hải Kỳ, ông chỉ chọn một bài ưng ý nhất để phân tích. Đó là thi phẩm viết về người vợ, một hiền thê có thể coi như là “Hộ pháp văn chương” (chữ dùng của Hoàng Phủ Ngọc Tường) của nhà thơ Hải Kỳ. Tác giả đã khẳng định đây là một trong số những bài thơ tình hay nhất viết tặng vợ của thơ Việt Nam hiện đại.
Xuất xứ bài thơ là do vợ nhà thơ Hải Kỳ đi lao động ở nước ngoài nên thi nhân buồn và nhớ thương da diết mới viết nên tác phẩm “Tôi ra cửa biển” vùng Nhật Lệ:
Em đi góc biển chân trời
Tôi về nhặt lại những lời bỏ quên
Mùa đông rụng lá ưu phiền
Sang xuân có bớt nỗi niềm nhớ mong
Biết là nhớ cũng bằng không
Tôi ra cửa biển ngồi trông cánh buồm
Theo nhà thơ Ngô Minh đây là bài thơ lục bát hay nhất, điệu nghệ nhất của thi sĩ Hải Kỳ. Rồi nhà thơ dẫn lại bốn câu hay nhất, tạo nên thần thái bài thơ hay và xúc động:
Biết là nhớ cũng bằng không
Tôi ra cửa biển ngồi trông cánh buồm
Tôi rơi vào cuối ngọn nồm
Em rơi vào cuối nỗi buồn của tôi
Và nhà thơ nâng niu cảm nhận:
“Đây là đoạn thơ hay nhất đã đi vào trí nhớ của nhiều người yêu thơ. Đoạn thơ này đã được in trong tập sách Những câu thơ trong trí nhớ của nhà thơ quá cố Tô Hà, một nhà thơ của Hà Nội biên soạn. Nhà thơ Nguyễn Vũ Tiềm ở TP. Hồ Chí Minh cũng đã chọn hai câu thơ Biết là nhớ cũng bằng không/Tôi ra cửa biển ngồi trông cánh buồm vào tuyển sách Nghìn câu thơ tài hoa Việt Nam”.
Lại có một thi nhân độc đáo khác, đó là nông dân thứ thiệt Hồng Thế và thi sĩ thứ thiệt cũng là... Hồng Thế, một người thơ quê Quảng Bình (cũ). Tác giả Ngô Minh đã hân hoan ghi nhận trong bài “Hồng Thế làm ruộng và … làm thơ”. Đúng là thơ Hồng Thế tạo được cảm quan và giọng điệu riêng, vừa mới, vừa lạ, phóng túng, mãnh liệt mà cũng rất thi vị. Như bài “Đá Nhảy” mà tôi từng được đọc. Bài thơ “có tứ hay và mới mẻ” như nhận xét của thi sĩ Ngô Minh:
Hình đá giống con thuyền cưỡi sóng
Giống con người kéo lưới lên bờ
Giống con chim vút lên trời rộng
Lại giống như ai đứng đợi chờ
Quan sát của thi nhân Hồng Thế thật tinh tường, cảm nhận tinh tế và liên tưởng, thể hiện cũng mới lạ, mang tính phát hiện. Hai câu cuối cũng thật ấn tượng và ám ảnh về một địa chỉ du lịch thu hút du khách:
Còn Đá Nhảy, đời còn mơ mộng
Còn trời xanh, còn biển rộng, còn say…
Đúng như thi sĩ Ngô Minh nói về thi nhân Hồng Thế thật đích đáng: “…thơ Hồng Thế được rất nhiều độc giả miền Trung mến mộ, được các nhà thơ rất vị nể từ thập niên 80 của thế kỷ trước, nhưng anh vẫn sống bám làng quê với hai vụ chiêm mùa, với con trâu, cái cuốc. Anh làm ra hạt lúa đề nuôi mẹ già, nuôi vợ con và làm ra những bài thơ để…chơi, để… nuôi mình…Tôi trộm nghĩ, một nông dân làm thơ hay như Hồng Thế là một hiện tượng lạ ở nước ta!”.











