Thượng tướng Trần Sâm trong ký ức người thân - Bài 2: Vị tướng tài đức vẹn toàn, người cán bộ liêm chính (Tiếp theo và hết)

Tuổi cao, bệnh trọng, Thượng tướng Trần Sâm từ trần ngày 13-8-2009, tại Viện Quân y 175, TP Hồ Chí Minh, hưởng thọ 92 tuổi. Hơn 90 năm ông đi qua cuộc đời - một cuộc đời với sự nghiệp phong phú, sôi động trải dài từ thuở thanh xuân đến tận sau này. Cuộc đời và sự nghiệp của ông toát lên một con người trong sáng mẫu mực, vừa có đức độ, vừa có năng lực, vừa có nhiều cống hiến đối với sự nghiệp vì nước vì dân.

Một người ham học tập, nghiên cứu, đọc sách

Sinh thời, Thượng tướng Trần Sâm vẫn nói với con cháu rằng, người gieo vào ông sự hiếu học là bố ông - cụ Trần Tước. Thuở nhỏ, sau khi học xong trường làng, ông được gia đình cho lên học ở trường phủ (huyện) Triệu Phong, cách nhà hơn 10 cây số. Có bà cô trong họ nhà gần trường, cho ông ở trọ. Nhà bà cô cũng nghèo. Tuy ở nhà cô nhưng gia đình thường xuyên phải chu cấp.

Thế rồi, vào một buổi trưa, giữa mùa mưa lũ, nước sông Vĩnh Định dâng cao, bố ông đang cơi nới nền nhà chống lũ, bất chợt nhìn ra cổng, thấy ông lúc ấy mới hơn 10 tuổi, mình trần, vai khoác tay nải, đang bì bõm lội nước vào nhà. Bố ông chạy vội ra ôm chầm lấy con lo lắng thảng thốt: ''Mưa lũ thế này con về làm gì, không sợ chết đuối à?''. Ông thưa với bố, nhà cô không còn gạo ăn nữa. Bố ông nghẹn ngào xuýt xoa: ''Thôi con cứ lo ăn học cho giỏi, bố sẽ dỡ nhà lên phủ. Sau này con lên học trường tỉnh, bố cũng sẽ dỡ nhà theo lên tỉnh. Bố làm thợ nề, chỉ cần có đôi bàn tay và một cái bay, đi đến đâu cũng có thể làm nghề được''.

Nói là làm. Hơn chục ngày sau, bố ông dỡ nhà lên phủ lỵ Triệu Phong đem theo cả vợ con. Nể phục sự hiếu học, đức độ và tay nghề của bố ông, người Đốc học trường phủ cho mượn một miếng đất sau trường để dựng nhà nuôi mấy người con ăn học. Bố ông lại tiếp tục làm thợ nề trong vùng. Mẹ ông thì mở quán bán cơm trưa cho học sinh.

Sau 6 năm học ở trường phủ, ông dự thi vào Trường Quốc học Huế nhưng thi trượt môn vấn đáp tiếng Pháp. Ông chuyển sang thi vào Trường Kỹ nghệ thực hành Huế (Trường Bách nghệ), đậu điểm cao, nên được học bổng toàn phần.

Trường Kỹ nghệ thực hành Huế dạy nhiều nghề: Thợ nguội, thợ hàn, thợ gò, thợ đúc… Giáo viên các môn học đều là người Pháp. Học sinh vào trường bắt buộc phải nói tiếng Pháp. Riêng môn Văn có thầy người Việt là nhà giáo Nguyễn Lân (tức nhà văn Từ Ngọc). Thầy Nguyễn Lân đồng thời dạy cả hai trường: Quốc học và Kỹ nghệ. Ông Trần Sâm học ở Trường Kỹ nghệ 3 năm, từ năm 1935 đến năm 1938. Khi nhập học, ông đăng ký học nghề thợ nguội, sau đó đồng thời xin học thêm nghề đồ họa. Cùng học với ông hồi đó có các ông: Nguyễn Côn, Trần Văn Trà, Hồ Trung Nam... Học khóa sau có các ông: Thanh Quảng, Lê Văn Tri…

 Thượng tướng Trần Sâm.

Thượng tướng Trần Sâm.

Việc học tại trường của ông có thêm một lần nữa. Đó là năm 1960, ông cùng các đồng chí: Võ Nguyên Giáp, Văn Tiến Dũng, Trần Văn Trà, Trần Văn Quang, Lê Đức Anh, Lê Trọng Tấn, Đồng Sĩ Nguyên, Cao Văn Khánh, Trần Độ, Nguyễn Quyết, Nguyễn Đôn, Lê Trọng Nghĩa, Thanh Quảng,… tham dự lớp thứ nhất “Khóa đặc biệt” dành riêng cho cán bộ chỉ huy cấp chiến lược tại Học viện Bộ Tổng Tham mưu quân đội Liên Xô. Thời gian học tập nghiên cứu là 6 tháng.

Vốn liếng học tại trường là cơ sở nền tảng kiến thức. Trong đời sống, ông Trần Sâm là người ham học, lấy tự học làm chính. Trong lý lịch của ông ghi trình độ văn hóa chưa hết bậc trung học. Nhưng trên thực tế, bằng con đường tự học, ông có kiến thức khá sâu trên nhiều lĩnh vực. Về ngoại ngữ, ngoài tiếng Pháp học được khi còn là học sinh, sau này trong công việc ông còn tự học biết thêm tiếng Nga, tiếng Hán. Với ông, làm bất cứ việc gì, đều phải nghiên cứu học tập.

Nhiều năm phụ trách công tác bảo đảm vũ khí, trang bị của Quân đội và các lĩnh vực kỹ thuật, công nghiệp quốc phòng, ông đã thường xuyên nghiên cứu tính năng tác dụng của từng loại vũ khí, trang bị; quy trình kỹ thuật và các nguyên công trong sửa chữa, sản xuất vũ khí, trang bị kỹ thuật. Khi kiêm chức Cục trưởng Cục Nghiên cứu Kỹ thuật Quân sự, ông đã phát huy khả năng của cấp dưới, đồng thời tranh thủ mọi điều kiện học hỏi nâng cao trình độ khoa học kỹ thuật nhằm đáp ứng yêu cầu lãnh đạo quản lý thực hiện nhiệm vụ. Ông là người đầu tiên đưa máy tính điện tử vào Quân đội. Được biết, trước đó ông đã dành khá nhiều thời gian nghiên cứu và mời các tiến sĩ toán học, tin học đến giảng đại cương về nguyên lý, tính năng, công suất, quy trình, phương pháp lập trình.

Khi được Nhà nước, Quân ủy Trung ương và Bộ trưởng Bộ Quốc phòng phân công chỉ đạo các binh đoàn kinh tế của Quân đội trồng hàng vạn héc ta cao su ở Tây Nguyên, ông đã tìm sách nghiên cứu và mời các chuyên gia đầu ngành trong và ngoài Quân đội giới thiệu về thổ nhưỡng, cây giống, chế độ chăm sóc, khai thác cây cao su. Đồng thời, ông đã nhiều lần trực tiếp đi thực địa khảo sát tình hình cụ thể. Chính vì vậy, khi họp giao nhiệm vụ cho các đơn vị, ông đã nắm rất chắc, thể hiện đầy đủ vai trò vừa là người chỉ huy lãnh đạo, vừa như là một chuyên gia - từ đó tạo niềm tin cho cấp dưới.

Cùng với nghiên cứu, ông còn là người mê đọc sách văn học. Bất cứ lúc nào rảnh rỗi là trên tay ông có cuốn sách. Năm 1992, trước khi chuyển vào sống ở TP Hồ Chí Minh, ông đã “bàn giao” trao tặng các con tôi toàn bộ tủ sách có đến hơn nghìn cuốn do ông gom góp từ nhiều năm. Ông dặn các cháu là tranh thủ đọc sách, tạo nên một thói quen thường nhật trong cuộc sống. Những năm cuối đời, ông vẫn mê đọc sách. Khi vào điều trị ở viện, bên giường bệnh của ông, thường xuyên có nhiều loại sách báo.

Một cán bộ liêm khiết, người cha, người ông nhân từ

Có thể nói, ông là một trong những mẫu cán bộ chí công vô tư. Quả thật, thời đó có một lớp người như vậy. Ở bậc quân hàm cấp tướng mấy chục năm, lại hơn 6 năm làm Bộ trưởng Bộ Vật tư - cơ quan quản lý, phân phối một khối lượng lớn vật tư kỹ thuật của đất nước trong cơ chế bao cấp hiện vật. Vậy mà gia đình ông cũng sống bình dị như mọi gia đình cán bộ công nhân viên chức.

Hồi đó, khi tiền lương không đủ trang trải cuộc sống và nuôi năm người con ăn học, ông bà phải tăng gia cải thiện thêm. Hàng chục năm, trong nhà, lợn nuôi xong lứa này mua tiếp lứa khác. Ngày bán lợn, cả nhà được bữa ăn tươi hơn, lắm khi ông bà còn mời người thân quý đến dự. Phía sau nhà có mấy chuồng gà. Ngoài sân đặt chuồng chim bồ câu. Khoảnh đất trống trước nhà được cuốc xới cẩn thận biến thành mảnh vườn rộng rãi xinh xắn, trồng đủ các loại rau, khoai, mía và cây ăn quả tốt. Có lần ông huy động con trai, con rể và mấy anh em bảo vệ, lái xe, công vụ tranh thủ những ngày nghỉ đào ao thả cá. Nhiều lần trước khi vào bệnh viện thăm người ốm, hoặc thăm gia đình liệt sĩ, thương binh, ông ra vườn cắt nải chuối, hái quả đu đủ, chùm nho, chùm vải thiều, túi hồng xiêm, sang hơn là một gói bột sắn dây do gia đình tự làm.

Nhiều lần đi công tác nước ngoài, khi về nước ông yêu cầu thư ký nộp lại cơ quan chính trị số tặng phẩm phía bạn tặng ông như đài bán dẫn, máy ảnh,… để dùng chung cho đơn vị; trái cây, thuốc lá,… làm quà biếu chia đều cho anh em cơ quan. Ông cho rằng, khi cán bộ ra nước ngoài mang tặng phẩm của Quân đội để tặng lãnh đạo của bạn, thì khi nhận lại những tặng phẩm của bạn, đương nhiên đó không phải là của riêng mình.

Ở Quân đội cũng như hồi làm Bộ trưởng Bộ Vật tư, ông là người rất nghiêm khắc - thậm chí được cho là khó tính - với việc mỗi khi đơn vị tổng kết hội nghị tổ chức liên hoan linh đình, ăn uống tốn kém. Được biết, có lần Hội nghị mừng công Bộ Vật tư, văn phòng đề nghị mở tiệc, ông chỉ chấp thuận mỗi đại biểu một bát phở tăng cường. Khi là Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, có lần đến làm việc với Bộ tư lệnh Không quân về quy hoạch sử dụng máy bay, vũ khí, trang bị kỹ thuật, các anh trong Bộ tư lệnh mời ông ở lại dùng cơm trưa. Ông nói, bà nhà tôi nấu rồi, tôi về ăn trưa cùng gia đình, đến chiều ta làm tiếp. Ông không bao giờ gây phiền phức cho người khác và nhất là không để lãng phí tốn kém công quỹ. Tính cách ông là vậy.

Năm 1982, chuyển công tác từ Bộ Vật tư trở lại Bộ Quốc phòng, ông có hai việc cần làm ngay: Đầu tiên là lục lại mấy bộ quần áo quân phục sờn cũ hơn 6 năm không dùng đến, đem giặt giũ để mặc lại. Tiếp đến, trong nhà có sẵn một chiếc khung xe đạp Favorit, ông ra hiệu mua phụ tùng về nhà, dành hẳn ngày Chủ nhật lắp ráp thành một chiếc xe hoàn chỉnh. Khi lắp ráp, khó nhất là việc đan nan hoa cân vành, vậy mà ông thao tác một cách thành thạo. Từ đó, hằng ngày, từ nhà riêng ở số 30 phố Lý Nam Đế vào “Nhà Con Rồng”, ông đều dùng xe đạp.

Hồi ấy, cán bộ ở cơ quan Bộ Quốc phòng thấy lạ, giữa dòng người đi làm, có một vị tướng già lặng lẽ đạp xe với một chiếc cặp da to cài dọc theo khung xe. Hầu như không bao giờ ông dùng xe ô tô công vào việc riêng gia đình. Tôi không thể quên lần cháu Nguyễn Trần Quang con tôi, khi mới gần 2 tuổi, đang đêm bị sốt cao, tím tái, lên cơn co giật. Thấy thế, chú Dương Minh Ngọ là bảo vệ của ông, thương tình xin ông cho mượn ô tô đưa cháu đi cấp cứu ở Quân y viện 108. Ông chạy đến sờ vào đầu cháu xuýt xoa, thôi, phải đưa cháu đi ô tô cho kịp cấp cứu và nhớ là đưa xe về ngay. Hồi đó, chưa có nhiều taxi như bây giờ.

Với con cháu, ông là người nhân từ, tình cảm sâu sắc. Trong cư xử, ông luôn có thái độ trầm tĩnh, chú ý lắng nghe, khuyên bảo ân tình, gợi mở các phương án cho con cháu chủ động tự lựa chọn cách giải quyết. Trước mọi vấn đề, không bao giờ ông can thiệp, áp đặt vào việc riêng của người khác. Trường hợp con cháu có điều gì làm trái, ông đều nhẹ nhàng từ tốn bảo ban, phân tích thấu đáo; tuyệt nhiên không bao giờ to tiếng quát nạt. Con cái, dâu, rể và các cháu nội ngoại trong gia đình thường xuyên nhận được ở ông sự chỉ bảo ân tình, bao dung, nhân từ. Mọi người đều tôn kính, thương yêu và quý trọng ông - luôn coi ông là chỗ dựa tinh thần.

Khách quan nói rằng, trong quan hệ công việc với cấp dưới, tấm lòng nhân đức của ông, có lúc có ảnh hưởng nhất định đến tính quyết đoán trước một số vấn đề. Trong cuộc sống, bất cứ là ai, khi ưu điểm vượt trội quá giới hạn, dễ trở thành nhược điểm.

Bà Lê Thị Lý, vợ ông - một người đảm đang việc nhà và là cán bộ nhiệt tình hăng hái ở cơ quan. Khác với sự trầm tĩnh tinh tế của ông, tính cách bà bộc trực, có lúc nóng nảy. Hai ông bà là người cùng làng, quen biết nhau từ nhỏ, nên vợ nên chồng từ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Khi khởi nghĩa giành chính quyền ở tỉnh Quảng Trị, ông là người tham gia lãnh đạo, còn bà hăng hái tham gia lực lượng quần chúng tiến vào chiếm Dinh Tỉnh trưởng. Trọn đời ông bà sống bên nhau hạnh phúc trong tình nghĩa vợ chồng yêu thương nồng ấm, luôn chia sẻ, chăm chút cho nhau về mọi việc.

Xuất thân từ thành phần lao động, bà cảm thông và rất thương người - nhất là những người có hoàn cảnh khó khăn. Còn nhớ, mùa Đông năm 1973, có lần vào một buổi chiều trên đường đi làm về, bà nhìn thấy hơn chục bộ đội căng nilon, trải chăn chiếu chuẩn bị ngủ qua đêm trên vỉa hè phố Lý Nam Đế. Bà đến hỏi, được biết, đó là số anh em đang hành quân vào miền trong, bị lỡ chuyến tàu, dừng lại nghỉ chờ đi chuyến sáng mai. Thương anh em bộ đội phải ngủ trên vỉa hè giữa đêm đông giá rét, bà dẫn tất cả về nhà ở trong thành, bố trí chỗ nghỉ và nấu cơm cho ăn. Mấy anh em vệ binh, bảo vệ biết vậy là trái nguyên tắc quy định trong việc bảo đảm an ninh nhưng không thể không chấp thuận theo cách của bà.

Tuổi cao, bệnh trọng, Thượng tướng Trần Sâm từ trần ngày 13-8-2009, tại Viện Quân y 175, TP Hồ Chí Minh, hưởng thọ 92 tuổi. Hơn 90 năm ông đi qua cuộc đời - một cuộc đời với sự nghiệp phong phú, sôi động trải dài từ thuở thanh xuân đến tận sau này. Cuộc đời và sự nghiệp của ông toát lên một con người trong sáng mẫu mực, vừa có đức độ, vừa có năng lực, vừa có nhiều cống hiến đối với sự nghiệp vì nước vì dân. Tấm Huân chương Hồ Chí Minh, hai Huân chương Quân công hạng Nhất, Huy hiệu 70 năm tuổi Đảng và nhiều huân, huy chương, danh hiệu vinh dự khác, là phần thưởng cao quý mà Đảng, Nhà nước và nhân dân trao tặng xứng đáng với công lao của ông. Đối với con cháu trong gia đình, họ hàng, người thân, ông là tấm gương lớn về nhân cách, trí tuệ, về tình thương yêu với tấm lòng bao dung nhân hậu lớn lao.

Nguồn QĐND: https://www.qdnd.vn/tuong-linh-viet-nam/thuong-tuong-tran-sam-trong-ky-uc-nguoi-than-bai-2-vi-tuong-tai-duc-ven-toan-nguoi-can-bo-liem-chinh-tiep-theo-va-het-1024657