Thương vụ hiến kế doanh nghiệp Việt chinh phục thị trường Halal
Doanh nghiệp Việt Nam cần xác định chiến lược dài hạn, đầu tư nghiêm túc cho nghiên cứu thị trường, điều chỉnh sản phẩm để tiến sâu vào thị trường Halal.
Đó là khuyến nghị của ông Lê Phú Cường - Trưởng Thương vụ Việt Nam tại Malaysia - tại Hội nghị giao ban xúc tiến thương mại tháng 3/2025, tổ chức sáng 4/4.
Hội nghị có sự tham gia của Thứ trưởng Bộ Công Thương Nguyễn Sinh Nhật Tân, đại diện các Hiệp hội, ngành hàng, địa phương, doanh nghiệp cùng đại diện các đơn vị thuộc Bộ Công Thương và hệ thống Thương vụ Việt Nam ở nước ngoài.

Ông Lê Phú Cường - Trưởng Thương vụ Việt Nam tại Malaysia phát biểu tại Hội nghị
Tại hội nghị, hệ thống thương vụ Việt Nam tại một số nước cũng đã đề cập đến những thay đổi chính sách và khuyến nghị đối với doanh nghiệp Việt Nam khi thâm nhập thị trường Halal toàn cầu.
Tháng 2/2025, tổng kim ngạch xuất khẩu Việt Nam sang Malaysia đạt khoảng 2,1 tỷ USD
Thông tin về tình hình thương mại, cập nhật những chính sách mới của Malaysia đối với hàng xuất khẩu Việt Nam tại hội nghị, ông Lê Phú Cường cho biết, theo số liệu của Tổng cục Hải quan Việt Nam, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu giữa Việt Nam và Malaysia trong tháng 2 năm 2025 đạt 2,1 tỷ USD, giảm 7,4% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, kim ngạch xuất khẩu là 751,8 triệu USD, giảm 5,1% so với cùng kỳ, kim ngạch nhập khẩu đạt 1,4 tỷ USD, giảm 8,6% so với cùng kỳ.
“Do kim ngạch nhập khẩu giảm nhiều hơn kim ngạch xuất khẩu nên cán cân thương mại bị thâm hụt 631,2 tỷ USD, giảm 12,4% so với cùng kỳ, về giá trị tuyệt đối mức thâm hụt cán cân thương mại bằng 84% so với giá trị xuất khẩu và giảm 89 triệu USD so với năm trước”, Trưởng Thương vụ Việt Nam tại Malaysia thông tin.
Về xuất khẩu, hầu hết các mặt hàng đều tăng trưởng không đáng kể, phần lớn là giảm so với cùng kỳ năm 2024. Chiếm tỷ trọng lớn nhất là máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện tăng 0,6%. Chiếm tỷ trọng nhiều thứ hai là sắt thép các loại giảm 0,4%, sản phẩm hóa chất giảm 0,8%, cà phê giảm 0,8%, máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện giảm 0,6%.
Về nhập khẩu, các mặt hàng tăng giảm đan xen không đáng kể, mặt hàng chiếm tỷ trọng lớn nhất là máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện tăng 0,4%, máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác chiếm vị trí thứ hai tăng 0,4%, xăng dầu giữ vị trí thứ ba về tỷ trọng và giảm 0,8% so với cùng kỳ năm 2024.
Nhiều thách thức với hàng hóa xuất khẩu Việt Nam
Malaysia đang nổi lên như một trong những thị trường tiềm năng cho hàng hóa Việt Nam, đặc biệt trong lĩnh vực thực phẩm và đồ uống Halal – ngành hàng phục vụ cộng đồng Hồi giáo chiếm hơn 60% dân số nước này. Tuy nhiên, thực tế cho thấy hàng Việt vẫn đang gặp nhiều khó khăn khi tiếp cận và khai thác thị trường này một cách hiệu quả.
Theo ông Lê Phú Cường, một trong những rào cản lớn đối với hàng Việt khi tiếp cận thị trường Halal chính là vấn đề chứng nhận Halal. Mặc dù đây không phải là yêu cầu bắt buộc đối với tất cả hàng nhập khẩu vào Malaysia, song lại là tiêu chí ưu tiên hàng đầu của hầu hết các nhà nhập khẩu, phân phối và bán lẻ nước sở tại. Việc chưa có chứng nhận Halal khiến nhiều sản phẩm Việt khó tìm được vị trí trong hệ thống bán lẻ tại Malaysia.

Hàng Việt Nam gặp nhiều thách thức khi xuất khẩu sang thị trường Halal. Ảnh minh họa
Không những vậy, quy trình xin cấp chứng nhận Halal tại thị trường Malaysia cũng được đánh giá là phức tạp và tốn kém. Các doanh nghiệp Việt, đặc biệt là doanh nghiệp vừa và nhỏ, thường gặp khó khăn trong việc đáp ứng các tiêu chuẩn nghiêm ngặt cũng như chi phí liên quan đến việc xin chứng nhận. Điều này dẫn đến thực tế là số lượng sản phẩm có chứng chỉ Halal của Việt Nam còn rất hạn chế.
Ngoài rào cản kỹ thuật, hàng hóa Việt Nam còn phải đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt đến từ các nước trong khu vực đã ký kết hiệp định thương mại tự do với Malaysia như Trung Quốc, Thái Lan, Indonesia… Các quốc gia này có ưu thế về sản phẩm phong phú, mẫu mã đa dạng, hệ thống phân phối rộng khắp và đặc biệt là sự am hiểu sâu sắc thị trường tiêu dùng Hồi giáo.
Một thách thức khác mà nhiều doanh nghiệp Việt đang gặp phải là việc thiếu nghiên cứu và điều chỉnh sản phẩm phù hợp với thị hiếu, văn hóa tiêu dùng địa phương. Ví dụ, nhiều sản phẩm thực phẩm như bún, miến, mì… dù tương đồng với khẩu vị người Malaysia nhưng lại chưa được đặt tên theo cách người tiêu dùng dễ hiểu, chưa sử dụng ngôn ngữ bản địa trên bao bì nhãn mác. Điều này khiến cho sản phẩm Việt khó tiếp cận người tiêu dùng phổ thông, đặc biệt là trong các kênh bán lẻ hiện đại.
Trước thực trạng đó, Thương vụ Việt Nam tại Malaysia đã chủ động triển khai nhiều giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp. Trong đó, đáng chú ý là hoạt động kết nối doanh nghiệp nhập khẩu lớn như NSK Trade City, Mydin, Ecoshop, Berjaya Food, LS Sales and Marketing Sdn, Bhd, Tian An Sdn, Bhd, Daiana Sdn, Bhd, Singlong Sdn, Bhd, Oval Spring Sdn, Bhd… với các doanh nghiệp Việt Nam thông qua các hội chợ quốc tế lớn như Vietnam Foodexpo, Vietnam Expo, Sourcing Expo, MIHAS, FDM, MIFB, Selangor Summit…
Thương vụ cũng đã tổ chức làm việc trực tiếp giữa các nhà nhập khẩu Malaysia với các doanh nghiệp lớn của Việt Nam như Masan Consumer, TH Group, Vinamilk, T&T Group, Hương Sen Group…, qua đó tạo điều kiện thuận lợi cho hàng Việt mở rộng thị phần tại Malaysia.
Bên cạnh đó, Thương vụ cũng khuyến nghị doanh nghiệp Việt nên chủ động tìm hiểu các tiêu chuẩn chứng nhận Halal được công nhận tại Malaysia. Trong đó, chứng nhận Halal do Trung tâm chứng nhận Halal Việt Nam (HCA) cấp, hiện đã được cơ quan Hồi giáo Malaysia (JAKIM) công nhận. Ngoài HCA, còn có các tổ chức khác được công nhận và doanh nghiệp có thể lựa chọn để tối ưu chi phí, thời gian.
Để hàng Việt có thể trụ vững và mở rộng thị phần tại thị trường Halal, đại diện Thương vụ Malaysia khuyến nghị, doanh nghiệp cần xác định rõ chiến lược dài hạn, đầu tư nghiêm túc cho nghiên cứu thị trường, điều chỉnh sản phẩm phù hợp với văn hóa bản địa, đồng thời chú trọng xây dựng thương hiệu thông qua các kênh xúc tiến thương mại chuyên nghiệp.
Thị trường Halal toàn cầu được định giá hàng nghìn tỷ USD mỗi năm, trong đó riêng Malaysia là một trung tâm chế biến và phân phối quan trọng tại khu vực ASEAN. Đây chính là cơ hội vàng cho hàng Việt nếu biết cách vượt qua những rào cản kỹ thuật, cạnh tranh hiệu quả và đáp ứng đúng nhu cầu thị trường.