Tích hợp chương trình mục tiêu quốc gia nhưng không để chính sách dân tộc bị hòa tan

Khi ba, rồi bốn chương trình mục tiêu quốc gia lần lượt được tích hợp chỉ trong chưa đầy một năm, một câu hỏi lớn được đặt ra là nguồn lực dành cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi có thực sự đến đúng vùng, đúng người hay không.

Đây không đơn thuần là một cuộc sắp xếp lại đầu mối hay thu gọn chương trình trên sơ đồ quản lý. Những văn bản đã được ban hành và đang tiếp tục hoàn thiện cho thấy bài toán khó hơn là vừa tích hợp nguồn lực, giảm chồng chéo, vừa phải bảo đảm các chính sách đặc thù dành cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi không bị hòa tan trong một chương trình có phạm vi ngày càng rộng.

Từ 3 tầng chính sách chồng chéo đến một khung quản lý thống nhất

Quá trình tích hợp các chương trình mục tiêu quốc gia không diễn ra trong một bước, mà qua hai lần điều chỉnh lớn liên tiếp. Ngày 11/12/2025, Quốc hội thông qua Nghị quyết số 257/2025/QH15, phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026 đến 2035, với 430/440 đại biểu tham gia biểu quyết tán thành.

Đây là bước chuyển quan trọng từ 3 chương trình vốn được tổ chức và vận hành theo những hệ thống tương đối độc lập sang một khuôn khổ chung. Mục tiêu không đơn thuần là giảm số lượng chương trình, mà quan trọng hơn là khắc phục tình trạng nguồn lực phân tán, chính sách giao thoa, đối tượng và địa bàn thụ hưởng có những điểm trùng lặp, trong khi quá trình tổ chức thực hiện phải đi qua nhiều đầu mối.

Gần 9 tháng sau, tiến trình tích hợp tiếp tục được đẩy lên một cấp độ mới. Ngày 24/8/2026, Quốc hội ban hành Nghị quyết số 46/2026/QH16, hợp nhất chương trình vừa được hình thành với ba chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển văn hóa, giáo dục và đào tạo, chăm sóc sức khỏe và dân số. Từ đó, một Chương trình mục tiêu quốc gia thống nhất về phát triển văn hóa xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi giai đoạn 2026 - 2035 được hình thành.

Quốc hội ban hành Nghị quyết về việc hợp nhất 04 Chương trình mục tiêu quốc gia đoạn 2026-2035.

Quốc hội ban hành Nghị quyết về việc hợp nhất 04 Chương trình mục tiêu quốc gia đoạn 2026-2035.

Hai lần tích hợp trong một năm cho thấy sự thay đổi đáng kể trong tư duy quản lý. Thay vì tổ chức nguồn lực theo từng chương trình và từng lĩnh vực tương đối tách biệt, chính sách đang chuyển sang một khung quản lý thống nhất hơn, trong đó nhiều mục tiêu phát triển được đặt trong cùng một tổng thể. Nhưng chính quy mô ngày càng lớn của chương trình cũng đặt ra một yêu cầu khó hơn, tích hợp phải làm giảm sự chồng chéo của chính sách, chứ không được làm mờ đi những nhu cầu đặc thù của từng địa bàn và từng nhóm đối tượng, đặc biệt là vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.

Lý do của những lần tích hợp liên tiếp này xuất phát từ chính những bất cập đã bộc lộ trong quá trình tổ chức thực hiện. Theo đánh giá của Chính phủ, giữa các chương trình trước đây có sự giao thoa về nội dung, địa bàn và đối tượng thụ hưởng, dẫn đến nguy cơ trùng lặp chính sách, phân tán nguồn lực và gia tăng đầu mối quản lý. Trong khi đó, việc sắp xếp lại đơn vị hành chính và tổ chức chính quyền địa phương cũng đặt ra yêu cầu phải thiết kế một cơ chế quản lý phù hợp với bộ máy mới.

Bởi vậy, tinh thần xuyên suốt của quá trình tích hợp không phải là cộng cơ học các chương trình vào một khuôn khổ lớn hơn, mà là tổ chức lại cách phân bổ và sử dụng nguồn lực. Chính sách phải đúng địa bàn, đúng đối tượng, sát nhu cầu cấp thiết và không trùng lặp, từng bước khắc phục cách tổ chức “mỗi chương trình một nguồn lực, một đầu mối” từng khiến nhiều địa phương phản ánh về tình trạng nhiều tầng thủ tục, chia cắt nguồn vốn trong giai đoạn 2021-2025.

Điểm đáng chú ý nhất, đồng thời là lời giải trực tiếp cho lo ngại chính sách dân tộc có thể bị “hòa tan” trong một chương trình có phạm vi ngày càng rộng, nằm ở những nguyên tắc được đặt ra ngay từ khi thiết kế việc hợp nhất. Theo đó, quá trình tích hợp không được làm thay đổi hoặc thu hẹp mục tiêu, phạm vi, đối tượng thụ hưởng, quyền lợi và mức độ ưu tiên đã được Quốc hội quyết định, đồng thời phải bảo đảm các nhiệm vụ đang triển khai không bị gián đoạn.

Điều đó có nghĩa, tích hợp về đầu mối không đồng nghĩa với xóa nhòa tính đặc thù của chính sách. Vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi tiếp tục có hợp phần riêng, do Bộ Dân tộc và Tôn giáo hướng dẫn thực hiện, tập trung vào những vấn đề đặc thù như hạ tầng, phát triển sản xuất và sinh kế, nguồn nhân lực, chính sách đối với các dân tộc còn nhiều khó khăn, truyền thông và chuyển đổi số.

Quan trọng hơn, kết quả thực hiện chính sách tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi phải được theo dõi, tổng hợp và báo cáo riêng phục vụ công tác giám sát. Đây là một cơ chế cần thiết để bảo đảm rằng khi nhiều chương trình cùng được đưa vào một khung quản lý thống nhất, nguồn lực và kết quả dành cho vùng dân tộc thiểu số vẫn có thể được nhận diện, đo lường và kiểm chứng, thay vì bị gộp chung vào một báo cáo tổng thể khó tách bạch.

Quy mô nguồn lực dành cho Chương trình cho thấy yêu cầu ưu tiên không chỉ dừng lại ở nguyên tắc. Trong giai đoạn 2026 đến 2030, tổng nguồn lực thực hiện dự kiến đạt 808.558 tỷ đồng. Trong đó, ngân sách Trung ương bố trí 345.000 tỷ đồng, gồm 244.200 tỷ đồng vốn đầu tư công và 100.800 tỷ đồng kinh phí thường xuyên; ngân sách địa phương 395.392 tỷ đồng; vốn tín dụng chính sách 23.000 tỷ đồng; hơn 45.000 tỷ đồng còn lại đến từ nguồn đối ứng giáo dục đại học và các nguồn huy động hợp pháp khác.

Nhưng quy mô nguồn lực chỉ là một vế của bài toán. Quan trọng hơn là nguồn lực được phân bổ cho đâu và theo thứ tự ưu tiên nào. Nghị quyết đặt ra yêu cầu đầu tư có trọng tâm, trọng điểm, khắc phục tình trạng manh mún, dàn trải; đồng thời dành mức ưu tiên cao nhất cho các xã, thôn đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, an toàn khu, khu vực biên giới và hải đảo. Đây là nhóm địa bàn dễ bị bỏ lại phía sau nhất nếu chính sách chỉ tính theo tỷ lệ dân số hay diện tích thông thường.

Điểm mới thực chất nằm ở phân cấp và kết quả thực hiện

Nếu Nghị quyết 46/2026/QH16 xác lập khung chủ trương, thì chính sách có thực sự chuyển động theo một cách thức mới hay không lại phụ thuộc vào khâu cụ thể hóa và tổ chức thực hiện. Đây cũng là vấn đề mang tính thời sự khi các cơ chế vận hành Chương trình đang tiếp tục được hoàn thiện.

Theo thông tin công bố ngày 14/9/2026, Bộ Tài chính đang lấy ý kiến thẩm định dự thảo Nghị định quy định nội dung, cơ chế, chính sách thực hiện Chương trình. Dự thảo gồm 7 chương, 54 điều và 8 phụ lục, bao quát 7 nhóm nhiệm vụ lớn, từ phát triển hạ tầng nông thôn, thực hiện chuẩn nghèo đa chiều, phát triển kinh tế và sinh kế, giáo dục và nguồn nhân lực, y tế và dân số, bảo tồn văn hóa đến các chính sách đặc thù dành cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.

Việc hoàn thiện khung pháp lý cũng đang chịu sức ép về thời gian. Dự thảo dự kiến được trình Chính phủ trước ngày 20/9/2026, nhằm tạo cơ sở tiếp tục triển khai các nhiệm vụ và kế hoạch vốn năm 2026, đồng thời chuẩn bị kế hoạch năm 2027. Yêu cầu đặt ra là quá trình chuyển từ các chương trình cũ sang một chương trình thống nhất không được tạo ra khoảng trống chính sách, làm chậm dòng vốn hoặc gián đoạn những nhiệm vụ đang triển khai tại cơ sở.

Xã biên giới Chiềng Sơn, tỉnh Sơn La hỗ trợ xóa nhà tạm, nhà dột nát cho các hộ nghèo trên địa bàn - Ảnh: Chiềng Sơn

Xã biên giới Chiềng Sơn, tỉnh Sơn La hỗ trợ xóa nhà tạm, nhà dột nát cho các hộ nghèo trên địa bàn - Ảnh: Chiềng Sơn

Thay đổi đáng chú ý nhất trong cách thức vận hành Chương trình, theo dự thảo, là phân cấp mạnh hơn cho địa phương nhưng đồng thời gắn quyền chủ động với trách nhiệm giải trình. Thay vì áp dụng một khuôn mẫu tương đối đồng nhất cho những địa bàn có điều kiện kinh tế, xã hội và đặc thù dân cư rất khác nhau, các tỉnh, thành phố được chủ động hơn trong phân bổ chi tiết và điều chỉnh nguồn lực trong phạm vi được giao, lựa chọn nội dung, mô hình cũng như phương thức tổ chức thực hiện phù hợp với nhu cầu thực tế.

Tinh thần phân cấp cũng được thể hiện trong cơ chế hỗ trợ phát triển sản xuất. Dự thảo thiết kế 4 hình thức gồm hỗ trợ liên kết theo chuỗi giá trị, hỗ trợ sản xuất cộng đồng, hỗ trợ theo nhiệm vụ và hỗ trợ đặc thù. Với các công trình xây dựng quy mô nhỏ, kỹ thuật không phức tạp và có sự tham gia của cộng đồng, thủ tục cũng được định hướng đơn giản hóa nhưng vẫn phải bảo đảm các yêu cầu về chất lượng, an toàn và giám sát công khai. 

Cách thức đánh giá Chương trình cũng được định hướng thay đổi theo hướng lấy kết quả đầu ra làm thước đo, gắn với hệ thống chỉ tiêu cụ thể, thay vì chủ yếu nhìn vào tiến độ giải ngân, khối lượng nhiệm vụ hay số lượng văn bản đã ban hành. Đây là chuyển biến quan trọng, bởi nguồn lực được phân bổ và giải ngân mới phản ánh tiến độ thực hiện, còn hiệu quả cuối cùng phải được đo bằng những thay đổi thực tế đối với địa bàn và đời sống người dân.

Những kết quả của giai đoạn 2021 đến 2025 cho thấy rõ yêu cầu này. Ba chương trình mục tiêu quốc gia đã tạo ra nhiều chuyển biến tích cực, với khoảng 25.000 sản phẩm OCOP được phát triển, tỷ lệ hộ nghèo đa chiều cả nước giảm còn 2,95% vào cuối năm 2025. Tuy nhiên, phía sau những con số tích cực vẫn còn những mục tiêu chưa đạt như kỳ vọng. Báo cáo tổng kết cho thấy 3 trong 9 chỉ tiêu của Chương trình phát triển kinh tế xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi chưa hoàn thành, liên quan đến cải thiện hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội, giảm số xã, thôn đặc biệt khó khăn và công tác định canh, định cư. Đây đều là những nhiệm vụ khó, đòi hỏi nguồn lực lớn và thời gian thực hiện dài. 

Các mục tiêu đến năm 2030 vì vậy được lượng hóa khá rõ. Tỷ lệ hộ nghèo đa chiều tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi phấn đấu giảm xuống dưới 10%; cơ bản không còn xã, thôn đặc biệt khó khăn; thu nhập bình quân của người dân tộc thiểu số đạt bằng một nửa mức bình quân chung của cả nước. Đến năm 2035, yêu cầu tiếp tục được nâng lên, với mục tiêu giảm ít nhất 50% số xã, thôn khó khăn còn lại và có ít nhất 5 tỉnh, thành phố thuộc vùng không còn xã, thôn khó khăn.

Tuy nhiên, từ mục tiêu đến cơ chế vận hành vẫn còn một khoảng cách cần tiếp tục hoàn thiện. Một trong những vấn đề còn để ngỏ trong dự thảo Nghị định là mô hình tổ chức Ban Chỉ đạo Trung ương và bộ máy giúp việc, khi giữa các bộ vẫn còn những phương án khác nhau. Chi tiết này cho thấy quá trình chuyển một chủ trương tích hợp lớn thành cơ chế điều hành thống nhất trong thực tế vẫn chưa hoàn tất.

Nhìn tổng thể, việc duy trì hợp phần riêng, theo dõi và báo cáo riêng, xác lập thứ tự ưu tiên trong phân bổ nguồn lực cùng hệ thống chỉ tiêu định lượng cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi không chỉ là một cuộc sắp xếp lại đầu mối hành chính, mà là một phép thử xem chính sách có thể vừa gọn về bộ máy, vừa không đánh mất trọng tâm ưu tiên cho nhóm dân cư dễ bị bỏ lại phía sau nhất hay không. Và câu trả lời cuối cùng sẽ chỉ đến từ chính kết quả thực hiện trong 5 năm tới.

Linh Đan

Nguồn Vnbusiness: https://vnbusiness.vn/tich-hop-chuong-trinh-muc-tieu-quoc-gia-nhung-khong-de-chinh-sach-dan-toc-bi-hoa-tan.html