Tiền gửi Kho bạc Nhà nước tại Big4 tăng 220.000 tỷ trong nửa đầu năm 2026
Tiền gửi KBNN tại 4 ngân hàng quốc doanh đạt hơn 715.000 tỷ đồng cuối quý II, tăng 45% so với cuối năm 2025, tạo thêm dư địa hỗ trợ thanh khoản.
Tiền gửi của Kho bạc Nhà nước (KBNN) tại 4 ngân hàng quốc doanh lớn tăng mạnh trong nửa đầu năm 2026, lên hơn 715.000 tỷ đồng. Nguồn tiền này được kỳ vọng hỗ trợ thanh khoản hệ thống, song theo VDSC, cần thêm thời gian để tác động rõ nét đến mặt bằng lãi suất.
KBNN gửi hơn 715.000 tỷ đồng tại Big4
Để tối đa lợi ích từ nguồn tiền nhàn rỗi, Kho bạc Nhà nước (KBNN) thường gửi tiền tại các ngân hàng thương mại quốc doanh. Đây là nguồn vốn tốt mà nhiều nhà băng mong muốn, song không phải ngân hàng nào cũng được tiếp cận.
Số liệu đến cuối quý II/2026 cho thấy lượng tiền gửi của KBNN tại 4 ngân hàng quốc doanh lớn gồm BIDV, Vietcombank, VietinBank và Agribank tiếp tục tăng mạnh. Tổng số dư đạt 715.630 tỷ đồng, tăng 222.602 tỷ đồng, tương đương 45,2% so với cuối năm 2025.
Cụ thể, tại BIDV, số dư tiền gửi KBNN tính đến ngày 30/6/2026 đạt 185.944 tỷ đồng, tăng 36,9% so với mức 135.865 tỷ đồng cuối năm 2025.
Tại Vietcombank, KBNN đang gửi 186.327 tỷ đồng, tăng 36,7% so với cuối năm 2025. So với cuối quý I/2026, số dư tiền gửi tại ngân hàng này giảm nhẹ từ 189.159 tỷ đồng.

Trong khi đó, VietinBank ghi nhận 184.240 tỷ đồng tiền gửi KBNN vào cuối quý II, tăng 36,8% so với mức 134.625 tỷ đồng cuối năm 2025. So với cuối quý I, số dư giảm khoảng 1.010 tỷ đồng.
Đáng chú ý, Agribank là ngân hàng có tốc độ tăng tiền gửi KBNN mạnh nhất trong nhóm. Đến cuối tháng 6/2026, số dư đạt 159.119 tỷ đồng, tăng gần 84% so với mức 86.538 tỷ đồng cuối năm 2025.
Về quy mô, Vietcombank hiện là ngân hàng có số dư tiền gửi KBNN lớn nhất trong nhóm với 186.327 tỷ đồng, tiếp đến là BIDV với 185.944 tỷ đồng, VietinBank với 184.240 tỷ đồng và Agribank với 159.119 tỷ đồng.
Lãi suất chưa thể giảm ngay, vẫn còn dư địa lớn từ tiền gửi KBNN
Tiền gửi KBNN tại các ngân hàng thương mại có một vai trò lớn trong việc cung ứng vốn cho nền kinh tế. Số dư tài khoản KBNN dồi dào tạo ra dư địa điều tiết nguồn ngân sách nhàn rỗi sang cho hệ thống ngân hàng để hỗ trợ thanh khoản.
Với đà thặng dư ngân sách như thời gian qua, số dư tiền gửi KBNN vào các ngân hàng dự kiến sẽ tiếp tục tăng trong thời gian tới.
Cũng chỉ trong ba tháng trở lại đây, nhà điều hành đã hai lần nới tỷ lệ tiền gửi KBNN được tính vào tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi (LDR), cho thấy vai trò ngày càng quan trọng của nguồn vốn này đối với thanh khoản hệ thống.
Mới đây ngày 30/7/2026, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) ban hành quyết định nâng tỷ lệ khấu trừ số dư tiền gửi có kỳ hạn của KBNN khi tính tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi từ ngưỡng 20% lên 50% số dư tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc. Quyết định có hiệu lực từ ngày 1/8/2026 đến hết ngày 31/7/2028.
Về bản chất, đây không phải là việc nới lỏng các chuẩn mực an toàn hay bơm thêm tiền vào nền kinh tế, mà là điều chỉnh phương pháp phản ánh đúng hơn chất lượng của nguồn vốn có tính ổn định cao.
Điều này được kỳ vọng sẽ hỗ trợ giảm áp lực thanh khoản với các ngân hàng, đặc biệt nhóm Big4, từ đó có thêm dư địa để bơm vốn ra ngoài hệ thống.
Vừa qua, Bộ Tài chính cũng kiến nghị NHNN nghiên cứu cơ chế tính tiền gửi có kỳ hạn của KBNN tại các ngân hàng thương mại vào nguồn vốn huy động nhằm bổ sung thanh khoản cho hệ thống ngân hàng, thay vì giới hạn mức trần 50% tiền gửi nhàn rỗi của KBNN được phép gửi vào ngân hàng thương mại, thì có thể được phép gửi linh động và có thể vượt mức trần đó.

Theo nhận định của VDSC, việc tính thêm 50% lượng tiền gửi KBNN vào LDR được kỳ vọng góp phần hạ nhiệt lãi suất trên thị trường 1, đặc biệt là lãi suất cho vay kỳ hạn ngắn, do nguồn tiền gửi này tác động trực tiếp đến chi phí vốn cận biên.
Tuy nhiên, để chính sách phát huy hiệu quả cần thêm thời gian "thẩm thấu", dự kiến khoảng 2-3 tháng. Đối với các kỳ hạn dài, vốn vẫn phụ thuộc vào chứng chỉ tiền gửi, do đó quá trình hạ nhiệt có thể diễn ra lâu hơn khi hệ thống cần thêm thời gian để tự cân đối nguồn vốn.
Trong khi đó, trong tháng 7, lượng OMO lưu hành giảm từ mức gần 500.000 tỷ đồng xuống dưới 200.000 tỷ đồng, cho thấy mức độ hỗ trợ thanh khoản của NHNN đang thu hẹp đáng kể.
Điều này đồng nghĩa hệ thống ngân hàng phải tự cân đối nguồn thanh khoản ngắn hạn nhiều hơn so với giai đoạn trước. Tuy nhiên, lãi suất liên ngân hàng, đặc biệt là kỳ hạn qua đêm, lại có xu hướng giảm, phản ánh thanh khoản ngắn hạn trên thị trường liên ngân hàng đang được cải thiện.
VDSC đánh giá áp lực thanh khoản ngắn hạn đã giảm, song điều này chưa đồng nghĩa mặt bằng lãi suất trên thị trường 1 đã bước vào xu hướng giảm rõ ràng. Đặc biệt, lãi suất huy động vẫn chịu tác động từ nhu cầu cân đối nguồn vốn của các ngân hàng.
Bên cạnh đó, trong môi trường lãi suất bên ngoài vẫn ở mức cao khi Fed và các ngân hàng trung ương lớn vẫn duy trì mặt bằng lãi suất cao, nếu NHNN mở rộng hỗ trợ thanh khoản để hạ nhiệt lãi suất thì áp lực tỷ giá trong thời gian tới có thể gia tăng.
Do đó, theo VDSC, để cân đối các mục tiêu vĩ mô, việc hỗ trợ thanh khoản nhưng có cân nhắc về quy mô và tần suất là lựa chọn hợp lý trong điều hành chính sách tiền tệ hiện nay.


