Tiến sĩ Nguyễn Minh Phong: Việt Nam chuyển hướng thu hút FDI có chọn lọc
Theo TS. Nguyễn Minh Phong, Việt Nam đã qua giai đoạn thu hút đầu tư bằng mọi giá và đang chuyển hướng sang thu hút có chọn lọc, mục tiêu, tính chất và yêu cầu của tương lai.
Thu hút FDI có chọn lọc
Vốn FDI thực hiện 7 tháng năm 2026 đạt 15,2 tỷ USD, tăng 11,8% so với cùng kỳ năm trước và cao nhất trong cùng kỳ 5 năm qua. Ngoài ra, đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài trong 7 tháng năm 2026 có 106 dự án được cấp mới giấy chứng nhận đầu tư với tổng số vốn của phía Việt Nam là 1,17 tỷ USD, gấp 2,9 lần so với cùng kỳ năm trước. Có 23 lượt dự án điều chỉnh vốn với số vốn điều chỉnh tăng 1,19 tỷ USD, gấp 9,2 lần.
Kết quả trên cho thấy, Việt Nam tiếp tục là điểm đến đáng chú ý trong quá trình tái cấu trúc dòng vốn đầu tư quốc tế. Tuy nhiên, để dòng vốn FDI tạo sức lan tỏa lớn hơn, Việt Nam cần chuyển mạnh từ thu hút sang khai thác hiệu quả, tăng liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước.
Nhằm làm rõ hơn về vấn đề này, phóng viên Báo Công Thương có cuộc trao đổi với TS. Nguyễn Minh Phong - Thành viên Hội đồng Tư vấn Kinh tế, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

TS. Nguyễn Minh Phong - Thành viên Hội đồng Tư vấn Kinh tế, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
- Vốn FDI thực hiện 7 tháng năm 2026 đạt 15,2 tỷ USD, tăng 11,8% và cao nhất trong cùng kỳ 5 năm qua. Theo ông, kết quả này phản ánh điều gì về sức hấp dẫn của môi trường đầu tư Việt Nam?
TS. Nguyễn Minh Phong: Thứ nhất, với kết quả tăng trưởng ấn tượng của thu hút FDI, đặc biệt là vốn thực hiện có sự tăng trưởng tích cực, cho thấy Việt Nam vẫn đứng vững là một trong những điểm đến của quá trình tái cấu trúc dòng đầu tư quốc tế.
Thứ hai, kết quả này cho thấy, Việt Nam có thêm nhiều động lực và triển vọng trong thu hút FDI nói riêng cũng như phát triển kinh tế nói chung, góp phần vào mục tiêu tăng trưởng hai con số trong thời gian tới.
Thứ ba, điều này cũng cho thấy Việt Nam cần tiếp tục đi đúng hướng trong quá trình cải thiện môi trường đầu tư, qua đó duy trì niềm tin đối với dòng vốn đầu tư quốc tế.
- Theo ông, trong bối cảnh cạnh tranh thu hút FDI giữa các quốc gia ngày càng gay gắt, Việt Nam cần làm gì để duy trì đà tăng của vốn FDI thực hiện và thu hút được những dự án có chất lượng cao hơn?
TS. Nguyễn Minh Phong: Chúng ta cần đặt vấn đề trong một tình huống mới. Việt Nam đã qua giai đoạn thu hút đầu tư bằng mọi giá và đang chuyển sang thu hút có chọn lọc, theo mục tiêu, tính chất và yêu cầu của tương lai.
Bên cạnh đó, các yêu cầu quốc tế về môi trường đầu tư, khu công nghiệp xanh và các chính sách cạnh tranh ngày càng gia tăng. Trong bối cảnh áp dụng thuế tối thiểu toàn cầu, Việt Nam cũng mất đi một số lợi thế, đặc biệt là lợi thế từ chính sách thuế trong thu hút đầu tư nước ngoài. Trong bối cảnh mới này, Việt Nam cần chú ý một số vấn đề.
Một là, tiếp tục cải cách hành chính, cải thiện môi trường đầu tư theo hướng đang triển khai và được ghi nhận. Đặc biệt, cần giảm thiểu chi phí cho doanh nghiệp, cả chi phí thủ tục hành chính và chi phí đầu vào, trong đó có các doanh nghiệp FDI.
Hai là, nhấn mạnh yêu cầu bảo vệ môi trường, tăng trưởng xanh và phát triển kinh tế phù hợp với các cam kết Net Zero cũng như những tiêu chí, tiêu chuẩn của các dòng đầu tư thế hệ mới và các tập đoàn lớn.
Ba là, phát triển mạnh đội ngũ doanh nghiệp trong nước để trở thành đối tác có năng lực, đủ sức hợp tác với các doanh nghiệp FDI. Cùng với đó, cần tiếp tục phát triển các mô hình kinh doanh mới, các lĩnh vực kinh tế mới và những hình thức ưu đãi mới.
Những ưu đãi này không còn đơn thuần dựa vào thuế mà cần gắn với hệ sinh thái, nguồn lao động và các dịch vụ chất lượng cao dành cho doanh nghiệp FDI.
Tăng liên kết để FDI lan tỏa vào nền kinh tế
- Thưa ông, để dòng vốn FDI tạo sức lan tỏa lớn hơn đối với nền kinh tế, theo ông cần ưu tiên giải pháp nào: cải thiện môi trường đầu tư, phát triển hạ tầng, nâng cao nguồn nhân lực hay tăng liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước?
TS. Nguyễn Minh Phong: Có hai vấn đề quan trọng nhất.
Đầu tiên là nâng cao chất lượng nguồn nhân lực để người lao động Việt Nam có thể tham gia làm việc tại các doanh nghiệp FDI. Tiếp theo là nâng cao năng lực và khả năng kết nối của doanh nghiệp Việt Nam, để trở thành đối tác và tham gia vào chuỗi cung ứng của các doanh nghiệp FDI, cả trong nước và quốc tế. Bên cạnh đó, những giải pháp về phát triển hệ sinh thái và cơ sở hạ tầng cũng cần tiếp tục được cải thiện. Tuy nhiên, quan trọng nhất vẫn là tăng cường kết nối.

Việt Nam đang chuyển từ thu hút FDI bằng mọi giá sang thu hút có chọn lọc.
Muốn kết nối, trước hết phải nâng cao chuẩn của doanh nghiệp Việt Nam. Doanh nghiệp phải có năng lực công nghệ, năng lực kỹ thuật và đáp ứng được các tiêu chuẩn kỹ thuật tương đương với doanh nghiệp FDI. Nếu doanh nghiệp FDI áp dụng một chuẩn, doanh nghiệp Việt Nam áp dụng một chuẩn khác sẽ không thể kết nối.
Thứ hai, cần bảo đảm các điều kiện để hình thành một hệ sinh thái thống nhất giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp nước ngoài. Nếu hai bên không tương thích thì dù có mong muốn cũng rất khó kết nối hiệu quả.
Thứ ba, cần tăng cường thông tin, dịch vụ hỗ trợ và các điều kiện tiếp xúc giữa doanh nghiệp trong nước với doanh nghiệp nước ngoài. Qua đó, các bên có thể hiểu nhau, tìm kiếm những điểm chung và hình thành các mối liên kết thực chất.
Đặc biệt, Việt Nam cần xây dựng các hệ thống dữ liệu lớn liên quan đến môi trường đầu tư, doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp nước ngoài. Đây là cơ sở quan trọng để các doanh nghiệp có thể tìm thấy nhau và mở ra cơ hội hợp tác.
- Nếu phải đưa ra một khuyến nghị quan trọng nhất để tận dụng đà tăng của FDI trong năm 2026, ông sẽ nhấn mạnh điều gì?
TS. Nguyễn Minh Phong: Chúng ta vừa phải thu hút FDI, vừa phải khai thác những giá trị mà FDI mang lại. Không thể chỉ thu hút đầu tư, sau đó dừng lại và để doanh nghiệp tự hoạt động theo cách của mình.
Đây là cách chúng ta đã từng làm trong quá khứ, vì vậy hiệu quả chưa cao. Khu vực FDI vẫn tương đối độc lập, thiếu gắn kết với nền kinh tế. Đặc biệt, sự tự cường, tự chủ của nền kinh tế có thể bị suy yếu.
Trong thời gian tới, điều quan trọng nhất là thu hút những nguồn FDI, lĩnh vực và đối tác mà Việt Nam thực sự đánh giá cao. Đồng thời, phải chuẩn bị các điều kiện và thể chế để có thể khai thác, liên kết các doanh nghiệp này, tạo động lực để họ chuyển giao công nghệ và đưa doanh nghiệp Việt Nam tham gia vào chuỗi giá trị, chuỗi cung ứng của họ. Đây là vấn đề Việt Nam phải suy nghĩ, hành động và tạo ra đột phá trong thời gian tới.
- Xin cảm ơn ông!
Theo số liệu của Cục Thống kê (Bộ Tài chính) tính chung, tổng vốn đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài gồm vốn cấp mới và vốn điều chỉnh đạt 2,36 tỷ USD, gấp 4,5 lần so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, vận tải kho bãi đạt 601,7 triệu USD, chiếm 25,5% tổng vốn đầu tư. Sản xuất, phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí đạt 585,8 triệu USD, chiếm 24,8%. Nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản đạt 487,4 triệu USD, chiếm 20,6%. Xây dựng đạt gần 209 triệu USD, chiếm 8,8%.











