Tìm giải pháp phát triển thị trường năng lượng, bảo đảm mục tiêu tăng trưởng?

Năng lượng là “huyết mạch” của nền kinh tế. Mục tiêu tăng trưởng kinh tế 2 con số đòi hỏi sự bảo đảm tuyệt đối về nguồn cung điện và nhiên liệu cho sản xuất, đời sống.

Tìm giải pháp phát triển thị trường năng lượng, bảo đảm mục tiêu tăng trưởng?

TS Nguyễn Hùng Dũng phát biểu tại Diễn đàn. (Ảnh: PV) Năng lượng là “huyết mạch” của nền kinh tế. Mục tiêu tăng trưởng kinh tế 2 con số đòi hỏi sự bảo đảm tuyệt đối về nguồn cung điện và nhiên liệu cho sản xuất, đời sống.

Thứ Tư 12/08/2026 06:45 (GMT+7)

Thị trường năng lượng còn nhiều “điểm nghẽn”

Tại Diễn đàn “Hoàn thiện chính sách tạo lợi thế cạnh tranh thúc đẩy phát triển năng lượng” được tổ chức ngày 11/8, các nhà quản lý, doanh nghiệp và các bên liên quan đã cùng nhau trao đổi, đánh giá thực trạng, nhận diện cơ hội, thách thức và đề xuất các giải pháp đột phá cho ngành năng lượng.

Theo dự báo, đến năm 2030, nhu cầu năng lượng tại Việt Nam sẽ tăng mạnh do tác động của quá trình công nghiệp hóa, chuyển đổi số và sự bùng nổ của các ngành công nghệ cao như AI, trung tâm dữ liệu. Tuy nhiên, ngành năng lượng đang đối mặt với nhiều thách thức lớn nguồn cung truyền thống suy giảm, dự án chậm tiến độ, hệ thống pháp luật chưa đồng bộ và thiếu hụt cơ chế tài chính cho các dự án quy mô lớn (LNG, năng lượng tái tạo, hydrogen).

“Vấn đề của ngành năng lượng Việt Nam hiện nay không còn nằm ở tiềm năng tài nguyên hay nhu cầu thị trường, mà chủ yếu nằm ở thể chế và môi trường đầu tư” - TS Nguyễn Hùng Dũng, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hội Dầu khí Việt Nam nói.

Theo đó, ông Dũng cho biết, hiện có một số “điểm nghẽn” chính sách đang cản trở phát triển ngành năng lượng. Có thể kể đến như một dự án năng lượng hiện nay phải đồng thời chịu sự điều chỉnh của nhiều luật như: Luật Điện lực, Luật Dầu khí, Luật Đầu tư, Luật Đất đai, Luật Bảo vệ môi trường, Luật Tài nguyên biển và nhiều nghị định hướng dẫn khác… Các quy định còn giao thoa hoặc chưa thống nhất, dẫn đến kéo dài thời gian chuẩn bị đầu tư. Đơn cử như các dự án điện gió ngoài khơi (ĐGNK), dù Chính phủ đã ban hành Nghị định số 272/2026/NĐ-CP quy định về khảo sát và phát triển ĐGNK, nhưng vẫn còn thiếu cơ chế nền tảng như phương pháp xác định giá điện, hợp đồng mua bán điện, cơ chế chia sẻ rủi ro hay bảo lãnh thanh toán. Đây là những yếu tổ quyết định để các tổ chức tín dụng quốc tế xem xét tài trợ vốn.

Đặc biệt, thiếu chính sách cho các ngành năng lượng mới khả năng ứng phó với các cú sốc bên ngoài. Ông Dũng nhấn mạnh, trong khi nhiều quốc gia đã ban hành chiến lược quốc gia về hydrogen, nhiên liệu hàng không bền vững, lưu trữ năng lượng hay tín chỉ carbon thì ở Việt Nam vẫn chưa có tiêu chuẩn kỹ thuật, cơ chế ưu đãi đầu tư, cơ chế định giá hay thị trường tiêu thụ. Điều này khiến doanh nghiệp khó mạnh dạn đầu tư, các tổ chức tài chính cũng chưa có cơ sở để đánh giá hiệu quả các dự án.

Cần phân cấp mạnh mẽ trong hoạt động đầu tư

Để ngành năng lượng thực sự trở thành động lực phát triển trong giai đoạn mối, theo ông Dũng, cần tập trung vào 3 nhóm giải pháp chính, gồm hoàn thiện thể chế theo hướng đồng bộ, ổn định và có tính dự báo cao. Theo đó, cần rà soát toàn bộ các quy định liên quan đầu tư năng lượng, bảo đảm thống nhất giữa Luật Điện lực, Luật Dầu khí, Luật Đầu tư, Luật Đất đai và các luật chuyên ngành; đồng thời đơn giản hóa thủ tục đầu tư, rút ngắn thời gian chuẩn bị dự án.

Ông Đoàn Văn Thuần - Viện Dầu khí Việt Nam cho rằng, Luật Dầu khí đã sửa đổi, bổ sung 5 nhóm chính sách để thị trường năng lượng trở thành động lực phát triển trong giai đoạn. Cụ thể, đã hoàn thiện, đơn giản hóa thủ tục, tăng cường phân quyền, giao quyền trong thẩm định, phê duyệt các bước triển khai điều tra cơ bản về dầu khí và hoạt động dầu khí; bổ sung, hoàn thiện các quy định về hợp đồng dầu khí và hoạt động dầu khí liên quan đến một số vấn đề thực tế phát sinh mang tính đặc thù của hoạt động dầu khí chưa được quy định cụ thể tại Luật Dầu khí năm 2022 và các văn bản quy phạm pháp luật dưới Luật hoặc quy định chưa phù hợp với thực tiễn đã có những thay đổi.

Ngoài ra, đã bổ sung, hoàn thiện cơ chế chính sách quy định về ưu đãi đầu tư trong hoạt động dầu khí; quy định cơ chế, chính sách phát triển chuỗi giá trị dầu khí, bao gồm dịch vụ dầu khí kỹ thuật cao và năng lượng ngoài khơi; đồng thời có quy định khung cho việc giảm phát thải khí nhà kính, thu giữ và lưu trữ các-bon trong hoạt động dầu khí; bổ sung trường hợp cần có cơ chế đột phá để thúc đẩy hoạt động dầu khí. Ngoài ra cũng đã có chính sách ưu đãi; quy định cơ chế, chính sách phát triển chuỗi giá trị dầu khí, bao gồm dịch vụ dầu khí kỹ thuật cao và năng lượng ngoài khơi.

Nhưng để tiếp tục hoàn thiện chính sách ưu đãi, thu hút đầu tư trong hoạt động dầu khí cần phân cấp mạnh mẽ như trao quyền chủ động cho Petrovietnam phê duyệt kế hoạch phát triển mỏ điều chỉnh, ký phụ lục Hợp đồng dầu khí giúp đẩy nhanh tiến độ triển khai dự án; cụ thể hóa quy định hướng dẫn bằng cách ban hành sớm Nghị định hướng dẫn chi tiết về về trình tự, thủ tục thẩm định, phê duyệt đối với phát triển mỏ dầu khí cận biên, nâng cao hệ số thu hồi dầu để nhà thầu áp dụng.

Hoàng Tú

Thị trường năng lượng còn nhiều “điểm nghẽn”

Tại Diễn đàn “Hoàn thiện chính sách tạo lợi thế cạnh tranh thúc đẩy phát triển năng lượng” được tổ chức ngày 11/8, các nhà quản lý, doanh nghiệp và các bên liên quan đã cùng nhau trao đổi, đánh giá thực trạng, nhận diện cơ hội, thách thức và đề xuất các giải pháp đột phá cho ngành năng lượng.

Theo dự báo, đến năm 2030, nhu cầu năng lượng tại Việt Nam sẽ tăng mạnh do tác động của quá trình công nghiệp hóa, chuyển đổi số và sự bùng nổ của các ngành công nghệ cao như AI, trung tâm dữ liệu. Tuy nhiên, ngành năng lượng đang đối mặt với nhiều thách thức lớn nguồn cung truyền thống suy giảm, dự án chậm tiến độ, hệ thống pháp luật chưa đồng bộ và thiếu hụt cơ chế tài chính cho các dự án quy mô lớn (LNG, năng lượng tái tạo, hydrogen).

“Vấn đề của ngành năng lượng Việt Nam hiện nay không còn nằm ở tiềm năng tài nguyên hay nhu cầu thị trường, mà chủ yếu nằm ở thể chế và môi trường đầu tư” - TS Nguyễn Hùng Dũng, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hội Dầu khí Việt Nam nói.

Theo đó, ông Dũng cho biết, hiện có một số “điểm nghẽn” chính sách đang cản trở phát triển ngành năng lượng. Có thể kể đến như một dự án năng lượng hiện nay phải đồng thời chịu sự điều chỉnh của nhiều luật như: Luật Điện lực, Luật Dầu khí, Luật Đầu tư, Luật Đất đai, Luật Bảo vệ môi trường, Luật Tài nguyên biển và nhiều nghị định hướng dẫn khác… Các quy định còn giao thoa hoặc chưa thống nhất, dẫn đến kéo dài thời gian chuẩn bị đầu tư. Đơn cử như các dự án điện gió ngoài khơi (ĐGNK), dù Chính phủ đã ban hành Nghị định số 272/2026/NĐ-CP quy định về khảo sát và phát triển ĐGNK, nhưng vẫn còn thiếu cơ chế nền tảng như phương pháp xác định giá điện, hợp đồng mua bán điện, cơ chế chia sẻ rủi ro hay bảo lãnh thanh toán. Đây là những yếu tổ quyết định để các tổ chức tín dụng quốc tế xem xét tài trợ vốn.

Đặc biệt, thiếu chính sách cho các ngành năng lượng mới khả năng ứng phó với các cú sốc bên ngoài. Ông Dũng nhấn mạnh, trong khi nhiều quốc gia đã ban hành chiến lược quốc gia về hydrogen, nhiên liệu hàng không bền vững, lưu trữ năng lượng hay tín chỉ carbon thì ở Việt Nam vẫn chưa có tiêu chuẩn kỹ thuật, cơ chế ưu đãi đầu tư, cơ chế định giá hay thị trường tiêu thụ. Điều này khiến doanh nghiệp khó mạnh dạn đầu tư, các tổ chức tài chính cũng chưa có cơ sở để đánh giá hiệu quả các dự án.

Cần phân cấp mạnh mẽ trong hoạt động đầu tư

Để ngành năng lượng thực sự trở thành động lực phát triển trong giai đoạn mối, theo ông Dũng, cần tập trung vào 3 nhóm giải pháp chính, gồm hoàn thiện thể chế theo hướng đồng bộ, ổn định và có tính dự báo cao. Theo đó, cần rà soát toàn bộ các quy định liên quan đầu tư năng lượng, bảo đảm thống nhất giữa Luật Điện lực, Luật Dầu khí, Luật Đầu tư, Luật Đất đai và các luật chuyên ngành; đồng thời đơn giản hóa thủ tục đầu tư, rút ngắn thời gian chuẩn bị dự án.

Ông Đoàn Văn Thuần - Viện Dầu khí Việt Nam cho rằng, Luật Dầu khí đã sửa đổi, bổ sung 5 nhóm chính sách để thị trường năng lượng trở thành động lực phát triển trong giai đoạn. Cụ thể, đã hoàn thiện, đơn giản hóa thủ tục, tăng cường phân quyền, giao quyền trong thẩm định, phê duyệt các bước triển khai điều tra cơ bản về dầu khí và hoạt động dầu khí; bổ sung, hoàn thiện các quy định về hợp đồng dầu khí và hoạt động dầu khí liên quan đến một số vấn đề thực tế phát sinh mang tính đặc thù của hoạt động dầu khí chưa được quy định cụ thể tại Luật Dầu khí năm 2022 và các văn bản quy phạm pháp luật dưới Luật hoặc quy định chưa phù hợp với thực tiễn đã có những thay đổi.

Ngoài ra, đã bổ sung, hoàn thiện cơ chế chính sách quy định về ưu đãi đầu tư trong hoạt động dầu khí; quy định cơ chế, chính sách phát triển chuỗi giá trị dầu khí, bao gồm dịch vụ dầu khí kỹ thuật cao và năng lượng ngoài khơi; đồng thời có quy định khung cho việc giảm phát thải khí nhà kính, thu giữ và lưu trữ các-bon trong hoạt động dầu khí; bổ sung trường hợp cần có cơ chế đột phá để thúc đẩy hoạt động dầu khí. Ngoài ra cũng đã có chính sách ưu đãi; quy định cơ chế, chính sách phát triển chuỗi giá trị dầu khí, bao gồm dịch vụ dầu khí kỹ thuật cao và năng lượng ngoài khơi.

Nhưng để tiếp tục hoàn thiện chính sách ưu đãi, thu hút đầu tư trong hoạt động dầu khí cần phân cấp mạnh mẽ như trao quyền chủ động cho Petrovietnam phê duyệt kế hoạch phát triển mỏ điều chỉnh, ký phụ lục Hợp đồng dầu khí giúp đẩy nhanh tiến độ triển khai dự án; cụ thể hóa quy định hướng dẫn bằng cách ban hành sớm Nghị định hướng dẫn chi tiết về về trình tự, thủ tục thẩm định, phê duyệt đối với phát triển mỏ dầu khí cận biên, nâng cao hệ số thu hồi dầu để nhà thầu áp dụng.

Hoàng Tú

Năng lượng là “huyết mạch” của nền kinh tế. Mục tiêu tăng trưởng kinh tế 2 con số đòi hỏi sự bảo đảm tuyệt đối về nguồn cung điện và nhiên liệu cho sản xuất, đời sống.

Nguồn Pháp Luật VN: https://baophapluat.vn/tim-giai-phap-phat-trien-thi-truong-nang-luong-bao-dam-muc-tieu-tang-truong.html