Tìm hiểu những thành tựu phát triển lý luận của Đảng về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

Lịch sử cách mạng của dân tộc ta 96 năm qua dưới sự lãnh đạo của Đảng đã minh chứng và khẳng định, chính tư duy lý luận, đường lối cách mạng đúng đắn của Đảng đã làm nên những vẻ vang, giúp đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế, uy tín quốc tế như ngày nay.

Tổng Bí thư Tô Lâm Báo cáo về các văn kiện trình Đại hội XIV Đảng Cộng sản Việt Nam tại phiên khai mạc Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV Đảng Cộng sản Việt Nam. (Ảnh: TRẦN HẢI)

Tổng Bí thư Tô Lâm Báo cáo về các văn kiện trình Đại hội XIV Đảng Cộng sản Việt Nam tại phiên khai mạc Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV Đảng Cộng sản Việt Nam. (Ảnh: TRẦN HẢI)

Vì vậy, bên cạnh nhiệm vụ lãnh đạo cách mạng, đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội, Đảng ta cũng rất quan tâm đến công tác lý luận (bao gồm cả nghiên cứu lý luận, giáo dục lý luận, truyền bá lý luận, đào tạo cán bộ lý luận). Qua nhiều giai đoạn của cách mạng, nhận thức lý luận của Đảng ta về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam từng bước được bổ sung, hoàn thiện, nhất là từ Đổi mới đến nay. Như đồng chí cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khái quát những câu hỏi Đảng ta tập trung trả lời từ thực tiễn của Việt Nam: Chủ nghĩa xã hội là gì? Vì sao Việt Nam lựa chọn con đường xã hội chủ nghĩa? Làm thế nào và bằng cách nào để từng bước xây dựng được chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam? Thực tiễn công cuộc đổi mới, đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam trong thời gian qua có ý nghĩa gì và đặt ra vấn đề gì?

Báo cáo Tổng kết một số vấn đề lý luận và thực tiễn về công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa trong 40 năm qua ở Việt Nam đánh giá: hệ thống lý luận về đường lối đổi mới, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam tiếp tục được bổ sung, phát triển và ngày càng hoàn thiện (1).

Trong giai đoạn ban đầu khi mới ra đời đến năm 1975, sứ mệnh quan trọng nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam là tập trung vào nhiệm vụ chống thực dân, đế quốc, giải phóng dân tộc, giành độc lập dân tộc và tạo những nền tảng kinh tế, xã hội bước đầu, đưa non sông thu về một mối. Thành tựu lý luận nổi bật của Đảng là vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào thực tiễn, xác định đúng đắn con đường cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, lấy nhiệm vụ giải phóng dân tộc, giành độc lập làm trên hết. Đảng phát triển tư duy về chiến tranh nhân dân, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân và bước đầu tìm tòi mô hình xây dựng chủ nghĩa xã hội trong bối cảnh đất nước chia cắt và hậu chiến, dù còn mang nặng tư duy tập trung, quan liêu, bao cấp.

Trong giai đoạn này, bên cạnh mục tiêu độc lập dân tộc, Đảng ta khẳng định đi lên chủ nghĩa xã hội là con đường tất yếu của cách mạng Việt Nam. “Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội” là sợi chỉ đỏ tư tưởng, là đường lối cơ bản, xuyên suốt của cách mạng Việt Nam. Đáng lưu ý là, trong giai đoạn từ 1976-1986, Đảng ta đã bước đầu phát triển nhận thức về các quy luật, các mối quan hệ lớn tồn tại khách quan trong thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước.

Trong giai đoạn Đổi mới từ năm 1986, đứng trước yêu cầu cấp bách cần thoát khỏi khủng hoảng kinh tế-xã hội, khắc phục mô hình tập trung quan liêu, bao cấp và phát triển bền vững đất nước, Đảng ta đã tiến hành công cuộc đổi mới từ Đại hội VI đến nay. Đây là quá trình liên tục tìm tòi, trải nghiệm, thử nghiệm, sáng tạo, kiên định và bền bỉ dưới sự lãnh đạo của Đảng, dựa trên nền tảng tư tưởng của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.

Chính trong giai đoạn này, lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam từng bước được hoàn thiện, phát triển. Thực tiễn đổi mới là trường học cuộc sống vĩ đại cho sự trưởng thành trí tuệ của Đảng và của nhân dân ta. Qua từng chặng đường thực tiễn để nghiên cứu, tổng kết, kiểm chứng, bổ sung lý luận.

Sau 40 năm thực hiện công cuộc đổi mới, 35 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng tiếp tục khẳng định: Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay(2). Những thành tựu đó đã khẳng định đường lối của Đảng là đúng đắn, sáng tạo; con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta là phù hợp với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của lịch sử, tạo tiền đề, nền tảng quan trọng để nước ta tiếp tục đổi mới và phát triển mạnh mẽ trong những năm tới.

Đại hội VI đề ra quyết sách Đổi mới, xác định đường lối, quan điểm, nguyên tắc và phương châm đổi mới, đặt nền móng bước đầu nhưng rất quan trọng cho lý luận Đổi mới Việt Nam, lý luận đường lối đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Đại hội VII (1991) thông qua quyết định lịch sử về “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta”, hình thành những nhận thức cơ bản về đặc trưng xã hội xã hội chủ nghĩa, về phương hướng xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ, đó là con đường và mô hình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Đại hội VIII (1996) kết thúc thế kỷ XX, đổi mới tròn một thập kỷ và đã đưa nước ta ra khỏi tình trạng khủng hoảng kinh tế-xã hội, giữ vững ổn định chính trị-xã hội, tích cực tạo tiền đề để tiếp tục đổi mới, bước vào thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Đại hội IX (2001) mở đầu thế kỷ XXI, sau 15 năm đổi mới, đã xác định giá trị “dân chủ” trong hệ mục tiêu của đổi mới. Đó cũng là giá trị trong hệ giá trị đặc trưng xã hội chủ nghĩa của nước ta được Đảng ta khẳng định như hiện nay.

Đại hội X (2006), Đảng ta tổng kết lý luận-thực tiễn 20 năm đổi mới với những kết quả và bài học quan trọng, khẳng định tính đúng đắn, sáng tạo của đường lối đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Đại hội XI (2011), trong bối cảnh 1.000 năm Thăng Long, Việt Nam đẩy mạnh đổi mới và chủ động hội nhập quốc tế, Đảng ta thông qua Cương lĩnh (bổ sung, phát triển, năm 2011) đã trang trọng đưa vào Cương lĩnh nhận thức mới của Đảng vềtư tưởng Hồ Chí Minh, ngọn cờ tư tưởng của Đảng, ngọn cờ dẫn đường của cách mạng Việt Nam. Nêu lên 8 mối quan hệ lớn của đổi mới.

Đại hội XII (2016), Đảng ta tiếp tục điều chỉnh, bổ sung, phát triển các đặc trưng xã hội chủ nghĩa, các phương hướng xây dựng chủ nghĩa xã hội trong thời kỳ quá độ, đặc biệt là lần đầu tiên xác định xây dựng Đảng về đạo đức, bổ sung lý luận về kinh tế thị trường và mối quan hệ giữa thị trường-Nhà nước và xã hội.

Đại hội XIII (2021), đặc biệt nhấn mạnh nội dung xây dựng, chỉnh đốn Đảng và bổ sung quan hệ thứ 10 về thực hành dân chủ, tăng cường pháp chế và bảo đảm kỷ cương xã hội.

Như vậy, đến Đại hội XIII, Đảng đã xác định rõ 8 đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa, 8 phương hướng cơ bản xây dựng chủ nghĩa xã hội, 10 mối quan hệ lớn phản ánh quy luật của đổi mới và quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Những nội dung này cùng với 3 trụ cột nền tảng (được chính thức xác định trong Văn kiện Đại hội XIV) tạo thành hệ thống lý luận cơ bản về chủ nghĩa xã hội Việt Nam, góp phần trả lời hai câu hỏi lý luận lớn mà thực tiễn đổi mới đặt ra: chủ nghĩa xã hội là gì và xây dựng chủ nghĩa xã hội như thế nào cho phù hợp với các quy luật khách quan, xu thế phát triển của thế giới đương đại và điều kiện cụ thể của Việt Nam. Cụ thể:

Tám đặc trưng: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới.

Tám phương hướng: Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức, bảo vệ tài nguyên, môi trường; phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, xây dựng con người, nâng cao đời sống nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; bảo đảm vững chắc quốc phòng và an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội; thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy ý chí và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, kết hợp với sức mạnh thời đại; xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện.

Mười mối quan hệ lớn: (i) Quan hệ giữa ổn định, đổi mới và phát triển; (ii) Quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị; (iii) Quan hệ giữa tuân theo các quy luật thị trường và bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa; (iv) Quan hệ giữa phát triển lực lượng sản xuất và xây dựng, hoàn thiện từng bước quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa; (v) Quan hệ giữa Nhà nước, thị trường và xã hội; (vi) Quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ môi trường; (vii) Quan hệ giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; (viii) Quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế; (ix) Quan hệ giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ; (x) Quan hệ giữa thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội.

Ba trụ cột nền tảng: Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; nền dân chủ xã hội chủ nghĩa.

(Còn nữa)

-----------------------------------------------

(1) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2026, t.2, tr.210.

(2) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, sđd, H.2026, t.2, trang 105.

PGS, TS TÔ HUY RỨA Nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Bí thư Trung ương Đảng, nguyên Trưởng Ban Tổ chức Trung ương

Nguồn Nhân Dân: https://nhandan.vn/tim-hieu-nhung-thanh-tuu-phat-trien-ly-luan-cua-dang-ve-chu-nghia-xa-hoi-va-con-duong-di-len-chu-nghia-xa-hoi-o-viet-nam-post957408.html