Tinh hoa phi công thử nghiệm (3): Những người đánh cược mạng sống để mở đường vào không gian

Khi Chuck Yeager phá vỡ bức tường âm thanh năm 1947, nhiều người tin rằng thử thách lớn nhất của ngành hàng không đã kết thúc. Nhưng với các phi công thử nghiệm, đó mới chỉ là điểm khởi đầu. Thập niên 1950-1960 mở ra cuộc đua còn khốc liệt hơn: bay nhanh gấp hai, ba, rồi năm lần tốc độ âm thanh; vươn lên rìa không gian; điều khiển những chiếc máy bay chưa từng có tiền lệ. Đằng sau mỗi kỷ lục là những con người chấp nhận đặt sinh mạng lên bàn cân để mở đường cho kỷ nguyên hàng không và vũ trụ hiện đại.

Không còn là cuộc đua với âm thanh: Sau thành công của Bell X-1, các kỹ sư nhanh chóng nhận ra rằng Mach 1 chỉ là cánh cửa đầu tiên. Khi tốc độ tăng lên Mach 2, Mach 3 rồi Mach 5, những vấn đề hoàn toàn mới xuất hiện: nhiệt độ bề mặt tăng vọt do ma sát với không khí, kết cấu kim loại giãn nở, động cơ phản lực truyền thống mất hiệu quả và khả năng điều khiển máy bay trở nên cực kỳ khó khăn.

Không còn là cuộc đua với âm thanh: Sau thành công của Bell X-1, các kỹ sư nhanh chóng nhận ra rằng Mach 1 chỉ là cánh cửa đầu tiên. Khi tốc độ tăng lên Mach 2, Mach 3 rồi Mach 5, những vấn đề hoàn toàn mới xuất hiện: nhiệt độ bề mặt tăng vọt do ma sát với không khí, kết cấu kim loại giãn nở, động cơ phản lực truyền thống mất hiệu quả và khả năng điều khiển máy bay trở nên cực kỳ khó khăn.

Muốn giải quyết những bài toán đó, không một phòng thí nghiệm nào đủ sức thay thế con người. Chỉ các phi công thử nghiệm mới có thể trực tiếp điều khiển nguyên mẫu, cảm nhận từng rung động bất thường, đưa máy bay về an toàn và kể lại chính xác điều gì đã xảy ra để kỹ sư sửa đổi thiết kế. (Ảnh: Lực lượng hỗ trợ bay thử nghiệm tại căn cứ Edwards, Mỹ tháng 1/1954).

Muốn giải quyết những bài toán đó, không một phòng thí nghiệm nào đủ sức thay thế con người. Chỉ các phi công thử nghiệm mới có thể trực tiếp điều khiển nguyên mẫu, cảm nhận từng rung động bất thường, đưa máy bay về an toàn và kể lại chính xác điều gì đã xảy ra để kỹ sư sửa đổi thiết kế. (Ảnh: Lực lượng hỗ trợ bay thử nghiệm tại căn cứ Edwards, Mỹ tháng 1/1954).

Bởi vậy, sau Chuck Yeager, nước Mỹ tiếp tục xây dựng một đội ngũ phi công thử nghiệm tinh nhuệ chưa từng có, hoạt động tại căn cứ Edwards giữa sa mạc Mojave – nơi được mệnh danh là “thủ đô của những chiếc X-plane”. (Ảnh: Lực lượng hỗ trợ bay thử nghiệm tại căn cứ Edwards, Mỹ tháng 1/1954).

Bởi vậy, sau Chuck Yeager, nước Mỹ tiếp tục xây dựng một đội ngũ phi công thử nghiệm tinh nhuệ chưa từng có, hoạt động tại căn cứ Edwards giữa sa mạc Mojave – nơi được mệnh danh là “thủ đô của những chiếc X-plane”. (Ảnh: Lực lượng hỗ trợ bay thử nghiệm tại căn cứ Edwards, Mỹ tháng 1/1954).

Nếu Yeager là người phá bức tường âm thanh thì Scott Crossfield là người đầu tiên chứng minh rằng con người có thể tiếp tục vượt xa giới hạn ấy. (Ảnh: A. Scott Crossfield đứng cạnh chiếc Douglas D-558-II Skyrocket sau chuyến bay ngày 20-11-1953, khi ông trở thành người đầu tiên trên thế giới điều khiển máy bay đạt tốc độ Mach 2 -gấp đôi tốc độ âm thanh. Nguồn ảnh: NASẤ)

Nếu Yeager là người phá bức tường âm thanh thì Scott Crossfield là người đầu tiên chứng minh rằng con người có thể tiếp tục vượt xa giới hạn ấy. (Ảnh: A. Scott Crossfield đứng cạnh chiếc Douglas D-558-II Skyrocket sau chuyến bay ngày 20-11-1953, khi ông trở thành người đầu tiên trên thế giới điều khiển máy bay đạt tốc độ Mach 2 -gấp đôi tốc độ âm thanh. Nguồn ảnh: NASẤ)

Ngày 20/11/1953, điều khiển chiếc Douglas D-558-II Skyrocket, Crossfield đạt Mach 2, tương đương hơn 2.000 km/h, trở thành người đầu tiên bay nhanh gấp đôi tốc độ âm thanh. Thành tích này mở ra cả một lĩnh vực nghiên cứu mới về khí động học siêu thanh. (A. Scott Crossfield trong buồng lái chiếc Douglas D-558-II Skyrocket ngay sau chuyến bay lịch sử vượt Mach 2. Chuyến bay mở ra giai đoạn nghiên cứu mới về khí động học siêu thanh. Nguồn ảnh: NASA)

Ngày 20/11/1953, điều khiển chiếc Douglas D-558-II Skyrocket, Crossfield đạt Mach 2, tương đương hơn 2.000 km/h, trở thành người đầu tiên bay nhanh gấp đôi tốc độ âm thanh. Thành tích này mở ra cả một lĩnh vực nghiên cứu mới về khí động học siêu thanh. (A. Scott Crossfield trong buồng lái chiếc Douglas D-558-II Skyrocket ngay sau chuyến bay lịch sử vượt Mach 2. Chuyến bay mở ra giai đoạn nghiên cứu mới về khí động học siêu thanh. Nguồn ảnh: NASA)

Crossfield nổi tiếng là người luôn giữ bình tĩnh trong những tình huống tưởng như vô vọng. Có chuyến bay, toàn bộ kính buồng lái bị đóng băng khiến ông gần như không nhìn thấy gì. Ông phải dùng chiếc tất của mình lau một khoảng nhỏ trên kính để bám theo máy bay hộ tống và đưa chiếc X-1 trở về căn cứ an toàn.

Crossfield nổi tiếng là người luôn giữ bình tĩnh trong những tình huống tưởng như vô vọng. Có chuyến bay, toàn bộ kính buồng lái bị đóng băng khiến ông gần như không nhìn thấy gì. Ông phải dùng chiếc tất của mình lau một khoảng nhỏ trên kính để bám theo máy bay hộ tống và đưa chiếc X-1 trở về căn cứ an toàn.

Sau này, Crossfield trở thành phi công đầu tiên điều khiển X-15 – chương trình được xem là cây cầu nối giữa máy bay và tàu vũ trụ. Nếu Bell X-1 mở đầu kỷ nguyên siêu thanh thì X-15 là bước đệm đưa con người tiến sát không gian.

Sau này, Crossfield trở thành phi công đầu tiên điều khiển X-15 – chương trình được xem là cây cầu nối giữa máy bay và tàu vũ trụ. Nếu Bell X-1 mở đầu kỷ nguyên siêu thanh thì X-15 là bước đệm đưa con người tiến sát không gian.

Được treo dưới cánh máy bay ném bom B-52 rồi thả ở độ cao lớn, X-15 sử dụng động cơ rocket để tăng tốc lên gần Mach 7, đạt độ cao hơn 100 km trong một số chuyến bay. Dữ liệu thu được từ chương trình này trở thành nền móng cho tàu con thoi, máy bay siêu thanh và nhiều chương trình không gian của NASA sau này.

Được treo dưới cánh máy bay ném bom B-52 rồi thả ở độ cao lớn, X-15 sử dụng động cơ rocket để tăng tốc lên gần Mach 7, đạt độ cao hơn 100 km trong một số chuyến bay. Dữ liệu thu được từ chương trình này trở thành nền móng cho tàu con thoi, máy bay siêu thanh và nhiều chương trình không gian của NASA sau này.

Mỗi chuyến bay của X-15 đều mang tính thử nghiệm. Không ai biết chắc chiếc máy bay sẽ phản ứng ra sao khi thân vỏ nóng đỏ vì ma sát, hệ thống điều khiển mất hiệu quả trong bầu khí quyển loãng hay khi phi công phải xử lý các sự cố chưa từng xuất hiện.

Mỗi chuyến bay của X-15 đều mang tính thử nghiệm. Không ai biết chắc chiếc máy bay sẽ phản ứng ra sao khi thân vỏ nóng đỏ vì ma sát, hệ thống điều khiển mất hiệu quả trong bầu khí quyển loãng hay khi phi công phải xử lý các sự cố chưa từng xuất hiện.

Một trong những cái tên tiêu biểu của chương trình X-15 là Joe Walker. Ông là phi công NASA đầu tiên điều khiển X-15 và hai lần đưa chiếc máy bay vượt mốc 100 km – điểm mà nhiều tổ chức quốc tế coi là ranh giới giữa khí quyển và không gian. Với thành tích này, Walker trở thành một trong những phi công đầu tiên của nước Mỹ thực sự bay vào không gian bằng một chiếc máy bay có cánh. (Ảnh: NASA)

Một trong những cái tên tiêu biểu của chương trình X-15 là Joe Walker. Ông là phi công NASA đầu tiên điều khiển X-15 và hai lần đưa chiếc máy bay vượt mốc 100 km – điểm mà nhiều tổ chức quốc tế coi là ranh giới giữa khí quyển và không gian. Với thành tích này, Walker trở thành một trong những phi công đầu tiên của nước Mỹ thực sự bay vào không gian bằng một chiếc máy bay có cánh. (Ảnh: NASA)

Cụ thể ngày 17/1/1963, Joseph A. “Joe” Walker, phi công thử nghiệm của NASA lái chiếc X-15 lên độ cao 271.000 ft (82,6 km), trở thành phi công thử nghiệm dân sự đầu tiên vượt mốc 50 dặm (80,5 km) – ngưỡng được Không quân Mỹ công nhận là không gian.

Cụ thể ngày 17/1/1963, Joseph A. “Joe” Walker, phi công thử nghiệm của NASA lái chiếc X-15 lên độ cao 271.000 ft (82,6 km), trở thành phi công thử nghiệm dân sự đầu tiên vượt mốc 50 dặm (80,5 km) – ngưỡng được Không quân Mỹ công nhận là không gian.

Đến ngày 22/8/1963, Joe Walker điều khiển X-15 số 3 lên độ cao 354.200 ft (107,96 km) – kỷ lục độ cao của chương trình X-15 và là chuyến bay cao nhất từng được thực hiện bằng máy bay có người lái cất cánh từ đường băng. Đây cũng là lần thứ ba ông vượt vào không gian, trở thành người đầu tiên trên thế giới bay vào không gian nhiều hơn một lần. (Ảnh: NASA)

Đến ngày 22/8/1963, Joe Walker điều khiển X-15 số 3 lên độ cao 354.200 ft (107,96 km) – kỷ lục độ cao của chương trình X-15 và là chuyến bay cao nhất từng được thực hiện bằng máy bay có người lái cất cánh từ đường băng. Đây cũng là lần thứ ba ông vượt vào không gian, trở thành người đầu tiên trên thế giới bay vào không gian nhiều hơn một lần. (Ảnh: NASA)

Joe Walker trong bộ đồ áp suất tại Trạm bay tốc độ cao của NASA ở Edwards, California (1958). Loại trang phục này bảo vệ phi công khi khoang lái mất áp ở độ cao lớn và là tiền thân của các bộ đồ sử dụng trong chương trình X-15. Thế nhưng nghề phi công thử nghiệm chưa bao giờ có chỗ cho sự an toàn tuyệt đối. Năm 1966, Joe Walker thiệt mạng trong một vụ va chạm trên không khi tham gia chuyến bay chụp ảnh cùng nguyên mẫu oanh tạc cơ XB-70 Valkyrie – tai nạn khiến cả ngành hàng không Mỹ bàng hoàng.(Ảnh: NASA)

Joe Walker trong bộ đồ áp suất tại Trạm bay tốc độ cao của NASA ở Edwards, California (1958). Loại trang phục này bảo vệ phi công khi khoang lái mất áp ở độ cao lớn và là tiền thân của các bộ đồ sử dụng trong chương trình X-15. Thế nhưng nghề phi công thử nghiệm chưa bao giờ có chỗ cho sự an toàn tuyệt đối. Năm 1966, Joe Walker thiệt mạng trong một vụ va chạm trên không khi tham gia chuyến bay chụp ảnh cùng nguyên mẫu oanh tạc cơ XB-70 Valkyrie – tai nạn khiến cả ngành hàng không Mỹ bàng hoàng.(Ảnh: NASA)

Điểm chung giữa Chuck Yeager, Scott Crossfield, Joe Walker và rất nhiều phi công thử nghiệm khác là họ không bay để lập kỷ lục cá nhân. Họ bay để trả lời những câu hỏi mà chưa ai có lời giải: một thiết kế mới có an toàn hay không, giới hạn thực sự của con người và máy bay nằm ở đâu, điều gì sẽ xảy ra nếu tiếp tục tăng tốc thêm một chút nữa. (Ảnh NASA: Trung tâm Nghiên cứu bay NASA Flight Research Center)

Điểm chung giữa Chuck Yeager, Scott Crossfield, Joe Walker và rất nhiều phi công thử nghiệm khác là họ không bay để lập kỷ lục cá nhân. Họ bay để trả lời những câu hỏi mà chưa ai có lời giải: một thiết kế mới có an toàn hay không, giới hạn thực sự của con người và máy bay nằm ở đâu, điều gì sẽ xảy ra nếu tiếp tục tăng tốc thêm một chút nữa. (Ảnh NASA: Trung tâm Nghiên cứu bay NASA Flight Research Center)

Mỗi câu trả lời đều được đánh đổi bằng những chuyến bay mà khả năng thất bại luôn hiện hữu. Chính nhờ những con người ấy, hàng không hiện đại mới có được các máy bay chiến đấu siêu thanh, tàu vũ trụ và công nghệ bay tiên tiến đang phục vụ con người ngày nay. (Ảnh chụp từ trên cao Căn cứ Không quân Edwards, California, với hồ cạn Rogers Dry Lake ở trung tâm. Mặt hồ đất sét rộng hàng chục km tạo thành “đường băng tự nhiên” khổng lồ, là nơi thử nghiệm hàng loạt máy bay siêu thanh như Bell X-1, X-15 và sau này là tàu con thoi Space Shuttle. Đây là đại bản doanh của chương trình X-15, nơi Joe Walker thực hiện các chuyến bay lịch sử. Nguồn: NASA)

Mỗi câu trả lời đều được đánh đổi bằng những chuyến bay mà khả năng thất bại luôn hiện hữu. Chính nhờ những con người ấy, hàng không hiện đại mới có được các máy bay chiến đấu siêu thanh, tàu vũ trụ và công nghệ bay tiên tiến đang phục vụ con người ngày nay. (Ảnh chụp từ trên cao Căn cứ Không quân Edwards, California, với hồ cạn Rogers Dry Lake ở trung tâm. Mặt hồ đất sét rộng hàng chục km tạo thành “đường băng tự nhiên” khổng lồ, là nơi thử nghiệm hàng loạt máy bay siêu thanh như Bell X-1, X-15 và sau này là tàu con thoi Space Shuttle. Đây là đại bản doanh của chương trình X-15, nơi Joe Walker thực hiện các chuyến bay lịch sử. Nguồn: NASA)

Anh Quân

Nguồn ANTĐ: https://anninhthudo.vn/tinh-hoa-phi-cong-thu-nghiem-3-nhung-nguoi-danh-cuoc-mang-song-de-mo-duong-vao-khong-gian-post661229.antd