Tình vùng rừng đước Cần Giờ

Ba mươi năm trước, tôi đến Cần Giờ bằng một chuyến phà cũ ọp ẹp băng qua lòng sông Soài Rạp. Khi ấy con đường xuống biển còn lầy lội, rừng đước còn hoang sơ và Cần Giờ dường như vẫn đứng bên rìa của TPHCM vốn sôi động.

Ba mươi năm sau quay lại, nơi đây đang và sẽ bước vào một cuộc chuyển mình lớn. Nhưng giữa những đổi thay ấy, có một điều dường như vẫn còn nguyên vẹn: tình người của vùng rừng đước.

1. Tôi đến Cần Giờ lần đầu vào cuối năm 1998, thời ấy dường như chẳng có bao nhiêu người biết và đến nơi này, thậm chí là những người chính gốc Sài Gòn. Lúc ấy muốn xuống vùng đất này chỉ có phương tiện duy nhất phải qua là phà Bình Khánh.

Chuyến phà ngày ấy lúc nào cũng có một mùi rất riêng: mùi cá biển, mùi nước mắm, mùi dầu máy từ khoang tàu, mùi mồ hôi từ khách, và cả mùi gió biển. Tiếng máy phà nổ ì ì, chậm rãi đẩy con tàu qua dòng nước đục của cửa sông. Nhưng hơi lạ, người đi phà khi ấy không ai vội.

Trên chuyến phà đầu tiên đến Cần Giờ năm ấy, tôi gặp một cụ bà tóc bạc trắng. Trước mặt bà là một cái khay nhỏ đựng vài thỏi kẹo cao su và mấy bao thuốc lá. Bà đi từ đầu phà đến cuối phà, chậm rãi mời khách. Một người bạn trong đoàn tôi mua một thỏi kẹo.

Anh hỏi giá, nhưng bà chỉ cười: “Qua bán đúng giá thôi. Không thôi thần Ông phạt”. Sau này tôi mới biết “thần Ông” mà bà nói chính là Thần Nam Hải - cá Ông, vị thần của biển trong tín ngưỡng ngư dân. Từ khoảnh khắc ấy, tôi hiểu rằng Cần Giờ không chỉ là một vùng đất. Đó còn là một vùng văn hóa của biển.

 Du khách đi ca nô khám phá Cần Giờ

Du khách đi ca nô khám phá Cần Giờ

Những năm đầu 2000, do đặc thù công việc, tôi thường đến Lâm viên Đảo Khỉ khi thành phố bắt đầu giao cho Saigontourist khai thác du lịch. Ở Lâm viên Đảo Khỉ, tôi gặp ông Tám “ba lô”, từng là lính đặc công Rừng Sác. Sau chiến tranh, ông ở lại làm bảo vệ cho khu Lâm viên. Ông có một chiếc xe đạp cũ kỹ, không gạc, không thắng.

Ông nói đạp chiếc xe ấy không phải để đi đâu xa, chỉ để chạy vòng vòng trong rừng, vừa đạp vừa nhìn đàn khỉ coi tụi nó hôm nay có phá phách gì không. Sau năm 1975, đàn khỉ nơi đây từng có lúc chỉ còn lại vài con. Ông Tám cùng anh em đồng nghiệp tìm rau quả, cơm thừa đem vào rừng cho khỉ ăn để gây lại đàn. Bây giờ du khách đến đây thấy hàng trăm con khỉ chạy nhảy. Ít ai biết phía sau câu chuyện ấy là công sức lặng lẽ của những người như ông.

Một người cũng có nhiều dịp theo chân đoàn khai thác du lịch trong thời gian đầu là Đại tá Lê Bá Ước - người mà anh em quen gọi là ông Bảy Rừng Sác, người làm nên những chiến công vang dội của Trung đoàn 10 đặc công Rừng Sác trên vùng sông nước phía Nam Sài Gòn trong những năm 1966-1975. Sau khi nghỉ hưu, ông rong ruổi nhiều nơi vận động xây dựng Đền tưởng niệm liệt sĩ Rừng Sác tại Nhơn Trạch, Đồng Nai.

Trong ngày khánh thành, ông Bảy đứng lặng rất lâu rồi nói: “Tôi đã khóc hôm đó. Anh em tôi cuối cùng cũng có một nơi để nhớ”. Cũng chính ông là người góp công lớn trong việc tái hiện căn cứ Rừng Sác giữa rừng đước Cần Giờ - nơi du khách hôm nay có thể hiểu được một phần lịch sử của vùng đất này.

Một người khác tôi từng gặp và có ấn tượng là chị Hai nấu cơm khỉ. Mỗi ngày chị nấu hàng chục ký gạo cho đàn khỉ. Chị đi chợ, nhóm bếp rồi gọi đàn khỉ bằng cái tên rất thân mật - “tụi nhỏ”. Chúng kéo vào bếp, leo lên mái nhà, giật nắp nồi, kêu chí chóe. Nhưng nếu một ngày nào đó tụi khỉ không xuất hiện, chị lại thấy thiếu. “Ngày nào không thấy tụi nó quậy là thấy buồn”, chị nói với tôi. Còn rất nhiều người dân chất phác nhưng hào sảng mà tôi đã gặp tại đây.

Linh hồn của vùng đất này có lẽ vẫn nằm trong những con người giản dị như vậy chăng?

2. Những năm gần đây, tôi thường trở lại Cần Giờ bằng ca nô, theo các chuyến khảo sát trải nghiệm du lịch đường sông từ trung tâm thành phố đến Cần Giờ. Chúng tôi ghé Vàm Sát, nơi rừng đước mọc dày như một bức tường xanh, rồi đến đảo Thiềng Liềng, nơi còn hoang sơ có những cánh đồng muối trắng lấp lánh dưới nắng. Đó là hai địa điểm hiện nay vẫn còn rất phù hợp cho du khách thích khám phá Cần Giờ bằng loại hình du lịch đường thủy.

Đặc biệt là khung cảnh buổi chiều, khi ánh nắng cuối ngày chiếu xuống mặt ruộng muối làm cả cánh đồng sáng lên như những tấm gương nhỏ. Nhìn mặt trời chìm dần phía rừng đước, tôi chợt nghĩ rằng, Cần Giờ không chỉ là một vùng du lịch của tương lai mà còn là nơi giữ lại cho thành phố một khoảng lặng rất cần thiết.

Cần Giờ hôm nay đang bước vào một giai đoạn chuẩn bị cho những đổi thay lớn. Những con đường từ phố thị về đây giờ rộng hơn, cả theo nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Những điểm du lịch đã và sẽ đông khách hơn. Những dự án đô thị biển bắt đầu hình thành với những giao dịch của những người có điều kiện kinh tế muốn trải nghiệm một không gian sống mới, tiện nghi nhưng vẫn tận hưởng hệ sinh thái của biển và rừng ngập mặn.

"Dung nhan" Cần Giờ đã và sẽ khác, nhưng có một điều không đổi đó là tình cảm của những người khách phương xa giống tôi khi chạm, quen tuyến điểm này. Và có lẽ chính điều đó đã làm nên linh hồn của Cần Giờ - một vùng đất từng lặng lẽ đang dần trở thành cửa ngõ ra biển của Thành phố Hồ Chí Minh.

TIẾN ĐẠT

Nguồn SGGP: https://sggp.org.vn/tinh-vung-rung-duoc-can-gio-post849868.html