Tôi sống được đến hôm nay là nhờ đồng đội

'Tôi còn sống đến hôm nay là nhờ đồng đội' - câu nói ấy được thương binh hạng 1/4 Hoàng Đức Vạn nhắc đi nhắc lại mỗi khi có ai ghé thăm ông ở xã Hòa An trong những ngày tháng 7 tri ân. Gửi lại một phần cơ thể nơi chiến trường Lào từ hơn nửa thế kỷ trước, trở về với đời thường cùng tỷ lệ thương tật 82%, người lính Cụ Hồ năm xưa vẫn viết tiếp câu chuyện về nghị lực phi thường và một tấm lòng trọn vẹn nghĩa tình.

Mùa xuân gửi lại chiến trường Lào

Tốt nghiệp Trường Trung cấp Nông lâm Việt Bắc năm 1966, chàng thanh niên Hoàng Đức Vạn gác lại những dự định riêng để tình nguyện nhập ngũ. Sau 3 tháng huấn luyện ở Thái Nguyên, tháng 9/1966, ông cùng đơn vị vượt dãy Trường Sơn sang Lào làm nhiệm vụ quốc tế.

Sau gần 3 năm làm công tác hậu cần, đến tháng 8/1969, ông mới chính thức cầm súng trực tiếp chiến đấu trong đội hình Trung đoàn 866 Quân tình nguyện Việt Nam.

Trực tiếp đối mặt với bom đạn chưa lâu, trận đánh rạng sáng ngày 24/5/1970 tại cứ điểm Boong Lọng (phía Bắc Cánh đồng Chum, tỉnh Xiêng Khoảng) đã trở thành dấu mốc khốc liệt nhất không thể nào quên. Nhớ lại thời khắc sinh tử ấy, thương binh Hoàng Đức Vạn bồi hồi: Hôm đó đơn vị đánh cao điểm 162 của phỉ Vàng Pao. Trận đánh diễn ra rất ác liệt. Đến loạt đạn cối thứ tư thì tôi bị trúng đạn bất tỉnh, không biết gì nữa. Lúc tỉnh dậy, việc đầu tiên tôi hỏi là đơn vị mình còn ai, trận đánh ra sao. Sau này mới biết đồng chí Chu Văn Sầm, Trung đội phó Trung đội 3, Đại đội 7, D5 cùng đồng đội đã liều mình đưa tôi ra khỏi trận địa. Ở chiến trường, giữa sống với chết chỉ cách nhau gang tấc, nhưng anh em không ai bỏ ai. Tôi còn sống đến hôm nay là nhờ đồng đội.

Bà Hoàng Thị Xuyến chỉnh lại tấm huân chương trên ngực áo quân phục của chồng - người thương binh hạng 1/4 Hoàng Đức Vạn.

Bà Hoàng Thị Xuyến chỉnh lại tấm huân chương trên ngực áo quân phục của chồng - người thương binh hạng 1/4 Hoàng Đức Vạn.

Sau những ngày cấp cứu tại trạm quân y dã chiến trên đất Lào, ông Hoàng Đức Vạn được chuyển về tuyến sau tại Việt Nam. Chính trong những tháng ngày nằm trên giường bệnh, người lính trẻ mới bàng hoàng đối diện với thực tế nghiệt dã: trận đánh trên cao điểm 162 đã cướp đi của ông cánh tay trái, cùng vô số vết thương ở vùng đầu và hông, lấy đi 82% sức khỏe. Cánh tay gửi lại chiến trường không chỉ khép lại quãng đời cầm súng, mà còn mở ra cho ông một hành trình thử thách mới: vượt qua đau đớn thể xác để trở về với cuộc sống đời thường.

Nhớ về những đêm dài đằng đẵng trên giường bệnh năm đó, ông tâm sự: Biết mình mất một cánh tay, tôi suy nghĩ nhiều lắm. Điều làm tôi day dứt nhất không phải là vết thương, mà là từ đó không còn được cầm súng cùng đơn vị nữa. Trong khi mình nằm điều trị thì anh em vẫn ngày đêm chiến đấu ngoài mặt trận. Nhiều đêm tôi chỉ mong có người mang tin đơn vị về, để biết sau mỗi trận đánh còn ai, còn mất ai. Nhưng rồi tôi lại nghĩ, mình vẫn còn may mắn hơn nhiều đồng đội đã hy sinh. Các anh ấy mãi mãi không còn được trở về, còn mình thì vẫn còn hy vọng có ngày trở về quê hương, gặp lại bố mẹ và người thân. Chính suy nghĩ ấy đã giúp tôi có thêm nghị lực để tiếp tục điều trị.

 Hội nhà báo Cao Bằng tặng quà tri ân Thương binh Hoàng Đức Vạn nhân kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 - 27/7/2026).

Hội nhà báo Cao Bằng tặng quà tri ân Thương binh Hoàng Đức Vạn nhân kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 - 27/7/2026).

Cánh tay tựa vào hậu phương

Tháng 11/1971, khi sức khỏe đã ổn định, ông chính thức xuất ngũ. Theo chế độ, ông thuộc diện được chăm sóc tập trung tại Trung tâm Điều dưỡng thương binh, nhưng người lính trẻ đã kiên quyết xin trở về quê nhà.

Sau những năm tháng lằn ranh giữa sự sống và cái chết nơi chiến trường, ông hiểu rằng không liều thuốc nào chữa lành những đau thương, mất mát tốt hơn tình yêu thương và hơi ấm của gia đình. Trở về với đời thường bằng một thân thể không còn lành lặn, cuộc chiến mới của ông thực sự bắt đầu. Tập sống, tập lao động và gánh vác việc nhà bằng duy nhất một cánh tay còn lại. Mỗi sinh hoạt nhỏ nhặt nhất cũng trở thành một cuộc vật lộn gian truân. Nhưng bản lĩnh của người lính Cụ Hồ không cho phép ông gục ngã hay trở thành gánh nặng của người thân. Ông lặng lẽ học lại mọi thứ, kiên cường bước qua những cơn đau nhức mỗi khi trái gió trở trời, để tự lập và gầy dựng lại cuộc sống.

Hơn nửa thế kỷ trôi qua, căn nhà ông tại xã Hòa An giờ đã đề huề con cháu. Kỷ vật chiến trường Lào năm xưa chẳng còn giữ được bao nhiêu, nhưng trên bức tường ở phòng khách, những tấm Huân chương Kháng chiến cùng Bảng "Gia đình vẻ vang" vẫn được cheo trang trọng như một phần ký ức thiêng liêng. Ở tuổi "thất thập cổ lai hy", dù sức khỏe đã yếu đi nhiều bởi những mảnh kim khí còn găm lại trong cơ thể, ông Vạn vẫn giữ nguyên nếp sống ngăn nắp, giản dị và tác phong mẫu mực của một người lính già.

Trong hành trình hơn 50 năm âm thầm vượt lên thương tật ấy, có một bóng hình lặng lẽ như cội cây xanh tỏa bóng xuống đời ông. Đó là bà Hoàng Thị Xuyến, người vợ tảo tần đã trở thành "cánh tay còn lại", đồng hành và chăm sóc ông trọn vẹn từ ngày ông trở về từ khói lửa. Xúc động nhớ lại chặng đường gian khổ nhưng ngập tràn nghĩa tình ấy, bà Xuyến bộc bạch:Ngày ông ấy trở về sau chiến tranh, sức khỏe còn yếu, sinh hoạt gặp rất nhiều khó khăn vì mất một cánh tay. Nhưng chưa bao giờ tôi thấy ông bi quan hay than phiền về bản thân. Việc gì làm được ông đều cố gắng tự làm, còn luôn động viên mẹ con tôi phải cố gắng vươn lên. Ông luôn bảo còn được trở về với gia đình là may mắn hơn nhiều đồng đội. Mỗi dịp 27/7 hay những ngày đồng đội đến thăm, ông lại nhắc chuyện chiến trường, nhắc tên những người đã hy sinh mà nhiều lúc nghẹn ngào không nói thành lời. Với con cháu, ông luôn dặn phải sống tử tế, biết ơn những người đã ngã xuống để có cuộc sống hòa bình hôm nay.

Trọn nghĩa giữa đời thường, vẹn tình với đồng đội

Những trải lòng mộc mạc ấy không chỉ phác họa nên chân dung một người lính kiên trung qua lửa đạn, mà còn làm ngời sáng nhân cách cao đẹp của một thương binh giữa đời thường. Trong mái ấm gia đình, ông Vạn là điểm tựa tinh thần vững chãi, là "cuốn sách sống" truyền cho con cháu bài học sâu sắc về sự kiên cường, lòng biết ơn và giá trị của hai chữ hòa bình.

Còn với bà con xóm giềng, ông là người thương binh mẫu mực, luôn tích cực tham gia các hoạt động ở địa phương mỗi khi sức khỏe cho phép. Nhận xét về người cựu chiến binh đầy nghị lực ấy, ông Nguyễn Ngọc Hưng, Chủ tịch Hội Cựu chiến binh xã Hòa An xúc động khẳng định: Đối với nhiều cựu chiến binh như bác Vạn, những vết thương chiến tranh có thể theo họ suốt cuộc đời, nhưng điều trân quý là hầu hết các bác đều giữ được tinh thần lạc quan, tiếp tục đóng góp cho gia đình và địa phương bằng những việc làm rất bình dị. Chính điều đó đã góp phần gìn giữ và lan tỏa phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ trong cuộc sống hôm nay.

Chia tay thương binh Hoàng Đức Vạn, điều lắng đọng lại sau câu chuyện không chỉ là dấu vết của chiến tranh hay phần xương máu ông gửi lại chiến trường. Sâu sắc hơn cả chính là tấm lòng vị tha và tình đồng chí thắm thiết của người lính Cụ Hồ.

Suốt buổi trò chuyện, ông gần như không một lời kể công, cũng chẳng bận lòng về những cơn đau thương tật đeo bám. Điều duy nhất khiến giọng ông nghẹn lại vẫn là hình bóng những người đồng đội đã không kịp trở về. Có lẽ, khói lửa chiến tranh chỉ thực sự lùi xa khi những ký ức rực lửa ấy được thế hệ hôm nay nâng niu bằng lòng tri ân sâu sắc. Phía sau những vất vả giữa thời bình và dấu vết hằn sâu của quá khứ khốc liệt, điều làm nên giá trị lớn nhất trong cuộc đời thương binh Hoàng Đức Vạn chính là một nhân cách cao đẹp, bao dung như cách ông vẫn lặng lẽ, trọn nghĩa vẹn tình sống giữa lòng quê hương.

Xuân Trường

Nguồn Cao Bằng: https://baocaobang.vn/toi-song-duoc-den-hom-nay-la-nho-dong-doi-3190636.html