Qua giông bão, người lính trở về làng biển: Bài 1: Từ làng biển đến đồi 107
Hải Bình, vùng đất ven biển giàu truyền thống, đã tiễn nhiều người con lên đường trong những năm tháng chiến tranh. Từ làng biển quê nhà, họ đến những chiến trường khác nhau. Hơn nửa thế kỷ sau, di chứng và ký ức chiến tranh vẫn còn trong một bên tai không nghe rõ, những tấm ảnh bạc màu, tập thơ được chắp nối từ trí nhớ và tên những đồng đội không trở lại. Nhưng quanh ký ức ấy, cuộc sống vẫn tiếp tục bằng tiếng gọi của người thân, bước chân con cháu và những công việc bình thường mỗi ngày.

Cựu chiến binh Trương Tất Ngũ cùng vợ - bà Nguyễn Thị Lắm, sắp xếp hàng hóa tại quầy tạp hóa của gia đình ở phường Hải Bình.
Ba cuộc đời riêng cùng gặp nhau ở một hành trình: đi qua giông bão để trở về với làng biển đã tiễn mình lên đường. Ở những con người ấy, hòa bình hiện hữu trong một mái nhà, tuổi già bên con cháu và quyền được sống trọn phần đời còn lại trên quê hương.
Từ làng biển Hải Bình, chàng thanh niên Trương Tất Ngũ rời quê năm 18 tuổi, vào chiến trường miền Đông Nam bộ. Gần chín năm sau, ông trở về với một bên tai không còn nghe được và ký ức về tiểu đội 12 người ở đồi 107. Hơn nửa thế kỷ đã qua, người lính năm xưa sống tuổi già bên vợ con và cửa hàng tạp hóa nhỏ trên quê hương.
Ký ức về trận đánh của tiểu đội 12 người
Khi chúng tôi bắt đầu buổi trò chuyện, cựu chiến binh Trương Tất Ngũ nghiêng đầu, đưa bàn tay lên áp sát một bên tai đã mất hoàn toàn thính lực: “Cháu nói to chút. Tai này bác để lại ở đồi 107 rồi”.
Ông cười, nhưng trong suốt buổi trò chuyện, người lính già nhiều lần phải đề nghị nhắc đi nhắc lại câu hỏi đến lần thứ hai, thứ ba mới nghe rõ. Bên tai còn lại của ông cũng đã suy giảm thính lực đáng kể theo năm tháng. Ký ức về Đồi 107 vì thế không chỉ hiện về qua câu chuyện của những người đồng đội, những chiến hào hay hai khẩu súng chống tăng năm xưa. Dấu tích của trận đánh khốc liệt ấy vẫn hiển hiện ngay trong từng nhịp sống thường nhật hôm nay của ông.
Cầm trang trọng tập bằng khen đã nhuốm màu thời gian cùng những tấm huân chương được ông trân quý, gìn giữ suốt nhiều thập kỷ qua, mép giấy quăn queo, những nếp gấp ngả màu, nhiều chỗ được dán lại bằng băng dính, người lính sinh năm 1949 chậm rãi mở từng tờ, đưa tay lần theo những dòng chữ đã nhòe, cẩn thận như sợ lớp giấy mỏng thêm một lần rách ra. Âm thanh của hiện tại đến với ông ngày càng khó nhọc, nhưng những năm tháng chiến đấu vẫn trở về qua từng địa danh, mốc thời gian và tên gọi đồng đội.

Cựu chiến binh Trương Tất Ngũ kể lại những năm tháng chiến đấu tại chiến trường miền Đông Nam bộ.
Tháng 7/1967, chàng thanh niên Trương Tất Ngũ vào tuổi 18, đang làm việc tại một công trường đắp đê ở Nghi Sơn. Nghe tin làng có đợt tuyển quân, ông rời công trường, trở về xin khám. Tên Ngũ không nằm trong danh sách gọi nhập ngũ, nhưng chàng trai trẻ vẫn tha thiết xin được lên đường. Người anh trai đã vào chiến trường Tây Nguyên từ ba năm trước; từng tốp thanh niên trong làng cũng lần lượt khoác ba lô ra trận. Khi ấy, chàng thanh niên vừa 18 tuổi xuân chỉ nghĩ: Người khác đi được thì mình cũng phải đi. Cuối năm đó, Trương Tất Ngũ hành quân vào chiến trường Tây Ninh.
Trong quãng thời gian chiến đấu tại miền Đông Nam Bộ, nhiều trận đánh ông không còn nhớ vẹn nguyên ngày tháng. Thế nhưng, cuộc đối đầu tại cứ điểm đồi 107 vào tháng 5/1970 vẫn hiện lên vẹn nguyên, rõ nét. Khi ấy, Trương Tất Ngũ là tiểu đội trưởng, trực tiếp chỉ huy và sử dụng súng chống tăng. Sau loạt pháo cối mở màn, bộ binh ta đồng loạt xông lên. Hỏa lực từ trong công sự địch bắn trả quyết liệt, chặn đứng mũi tiến công trước chiến hào.
Giữa lằn ranh sinh tử, người chiến sĩ mang khẩu B40 của đơn vị trúng thương, không thể tiếp tục chiến đấu, trong khi hỏa điểm phía trước vẫn điên cuồng khống chế đường xung phong. Không một chút do dự, ông lao lên. Đang mang sẵn khẩu AT trên vai, ông lấy thêm khẩu B40 rồi rạp người tiến về phía trước. Chọn vị trí thuận lợi để quan sát, ông dùng B40 bắn vào công sự địch, tạo thời cơ cho đơn vị tiếp tục xung phong, chiếm cứ điểm. Trận đánh kết thúc, tiểu đội 12 người của ông có 2 người hy sinh, 3 người bị thương.
Sau chiến công ấy, ông Ngũ được ghi nhận tiêu diệt 7 lính đối phương và được công nhận danh hiệu Dũng sĩ diệt Ngụy. Trong suốt gần 9 năm bom đạn tại chiến trường, ông có tới 5 lần được vinh danh dũng sĩ diệt Mỹ và diệt Ngụy. Thế nhưng, những tờ giấy chứng nhận được trao ngày ấy đã thất lạc trong các cuộc hành quân.
Giấy tờ không còn, nhưng quân số của tiểu đội trên đồi 107 năm ấy thì chưa bao giờ phai nhòa trong tâm khảm ông. 12 người lính kiên cường tiến lên, khi tiếng súng lặng đi, 2 vị trí đã vĩnh viễn bỏ trống, 3 đồng đội khác mang theo thương tích suốt đời.
Với người cựu chiến binh, điều đọng lại không phải số lần được tuyên dương, mà là nỗi đau đáu về những người anh em đã không thể trở về cùng đội hình.

Ông Trương Tất Ngũ gìn giữ tấm Huân chương Kháng chiến hạng Ba đã sờn theo thời gian.
Sau năm 1970, đơn vị ông tiếp tục làm nhiệm vụ bảo vệ tuyến hành lang, hỗ trợ vận chuyển lương thực, vũ khí vào chiến trường. Cuối năm 1974, đơn vị tham gia các hoạt động chuẩn bị cho cuộc tiến công mùa Xuân 1975. Trưa 30/4/1975, ông đang ở trong một nhà dân tại Chơn Thành thì người chủ nhà từ ngoài đường chạy vào, vừa đến sân đã reo lớn: “Sài Gòn giải phóng rồi! Miền Nam giải phóng rồi!”.
"Tin chiến thắng làm căn nhà nhỏ rộn lên. Người chủ gọi các con trở về, mời bộ đội ở lại mổ heo ăn mừng. Người dân vui, bộ đội vui. Cứ như đến cây cỏ cũng vui”, ông nhớ lại.
Giữa niềm vui ngày toàn thắng, sau gần 9 năm ở chiến trường, người lính trẻ cuối cùng cũng có thể nghĩ đến ngày đoàn tụ với gia đình. Nhưng do yêu cầu nhiệm vụ, phải đến năm 1976, ông mới có chuyến phép đầu tiên trở lại làng biển Hải Bình. Trở về mái nhà đã rời đi từ tuổi 18, mẹ và em gái vẫn còn đó. Nhưng người cha thì không còn chờ được ngày con trai trở về nữa.
Cha ông đã mất từ năm 1972. Phải một năm sau, qua một người đồng hương tình cờ gặp giữa chiến trường, ông mới biết tin. Khi ấy, ông không thể về chịu tang; người anh trai cũng đang chiến đấu ở một đơn vị khác. Trong những ngày cha mất, ở nhà chỉ có mẹ và em gái lo hậu sự, còn cả hai người con trai đều vắng mặt.
Trở về làng biển, dựng lại mái nhà
Sau ngày xuất ngũ, ông Trương Tất Ngũ nên duyên với bà Nguyễn Thị Lắm, người con gái cùng làng. Gia đình cho hai vợ chồng một mảnh đất nhỏ dựng căn nhà tranh. Từ chỗ “cắm dùi” ấy, họ gây dựng cơ ngơi và nuôi 4 người con trưởng thành.
Ông Ngũ vừa tham gia công tác tại địa phương, làm Bí thư Chi bộ thôn Tân Hải từ năm 1978 đến 1984, vừa đi biển đánh cá. Bà Lắm ở nhà chăm con, buôn bán thêm để trang trải cuộc sống. Năm 1986, hai vợ chồng mở cửa hàng tạp hóa nhỏ để mưu sinh ngay trước cổng.

Ông Trương Tất Ngũ và bà Nguyễn Thị Lắm bên mái nhà đã cùng nhau gây dựng sau chiến tranh.
Gần 40 năm qua, cửa hàng tạp hóa nhỏ vẫn mở cửa mỗi ngày. Buổi sáng, ông Ngũ giúp vợ mang hàng ra, treo những dây dầu gội, bột giặt lên vách, xếp bánh kẹo vào từng ô. Chiều xuống, hai ông bà lại cùng thu dọn. Do tai nghe kém, câu chuyện với khách nhiều khi đến với ông chỉ thành từng đoạn. Có lúc bà Lắm phải ghé lại gần bên tai nói lớn hơn để ông hiểu. Người trong xóm đến mua gói muối, chai nước mắm rồi tiện ngồi lại hỏi han đôi câu. Từ cửa hàng tạp hóa nhỏ này, ông bà chắt chiu và góp phần nuôi 4 người con khôn lớn.
Nay con cái đã trưởng thành, nơi này trở thành góc đời bình dị để hai ông bà còn có việc cùng làm và người ra vào trò chuyện mỗi ngày.

Ông Trương Tất Ngũ được trao tặng Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng.
Ông Ngũ gấp tập giấy cũ, đặt xuống bên cạnh. Ngoài hiên, bà Lắm gọi chồng ra thu hàng trước khi mưa xuống. Người cựu binh nghiêng đầu về phía bên tai còn nghe được, gật nhẹ rồi chậm rãi bước ra.
Hơn nửa thế kỷ trước, từ làng biển ở Hải Bình, ông mang tuổi 18 vào chiến trường. Đồi 107 “còn lại” trong một bên tai không nghe rõ và ký ức về những vị trí khuyết đi sau trận đánh. Nhưng trở về làng biển quê hương, phần đời bình dị của ông sau chiến tranh còn có người vợ tảo tần, 4 người con trưởng thành, 1 cửa hàng tạp hóa nhỏ, căn nhà nhỏ.
Đi qua những năm tháng giông bão, bình yên với người lính già là được sống trọn tuổi già ở nơi mình sinh ra.











