Tối ưu hóa chi phí logistics để thúc đẩy xuất khẩu
Chi phí logistics không chỉ nằm ở cước vận tải mà còn phát sinh từ thời gian chờ, tồn kho, thủ tục, lưu container và những điểm đứt gãy dữ liệu. Muốn giảm chi phí này, cần đo lường trên toàn chuỗi, xử lý từng điểm nghẽn và lượng hóa kết quả bằng thời gian, chi phí và độ tin cậy của dòng hàng.
Dư địa giảm chi phí logistics còn lớn
Năm 2025, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa đạt 930,1 tỷ USD. Trong 8 tháng đầu năm 2026, con số này đã đạt 770,14 tỷ USD, tăng 28,7% so với cùng kỳ. Cũng trong 8 tháng qua, nhóm hàng công nghiệp chế biến, chế tạo chiếm 90,17% kim ngạch xuất khẩu; nhóm tư liệu sản xuất chiếm 94,11% kim ngạch nhập khẩu. Nếu logistics không theo kịp, chi phí vận chuyển, lưu kho và vốn của nguyên liệu đầu vào sẽ chuyển vào giá thành hàng xuất khẩu.

Cảng Cái Mép - Thị Vải. Ảnh: Huỳnh Sơn
Trong khi đó, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) chiếm 80,1% kim ngạch xuất khẩu, còn khu vực kinh tế trong nước nhập siêu khoảng 30,60 tỷ USD. Vì vậy, tối ưu chi phí logistics cần gắn với nâng năng lực tham gia chuỗi của doanh nghiệp trong nước.
Năng lực logistics của Việt Nam đã cải thiện. Theo Ngân hàng Thế giới, chỉ số hiệu quả logistics Việt Nam (LPI) năm 2023 đạt 3,3 điểm, xếp thứ 43/139 nền kinh tế và thứ 5 ASEAN. Tuy nhiên, Báo cáo Logistics Việt Nam 2025 ước tính chi phí logistics tương đương khoảng 16 - 17% GDP. Đây là ước tính ở tầm nền kinh tế và cho thấy cần sớm có bộ dữ liệu, đường cơ sở chính thức, ổn định.
Quyết định số 2229/QĐ-TTg ngày 9/10/2025 đặt mục tiêu đến năm 2035 đưa chi phí logistics xuống mức tương đương 12 - 15% GDP và Việt Nam vào nhóm 40 quốc gia, vùng lãnh thổ đứng đầu về LPI. Muốn đạt mục tiêu này, không thể chỉ xây thêm hạ tầng mà phải đồng thời tổ chức lại luồng hàng, kết nối các phương thức vận tải, giảm thời gian chờ, cải cách thủ tục và điều hành bằng dữ liệu.
Cơ cấu vận tải cho thấy dư địa còn lớn. Theo Báo cáo Logistics Việt Nam 2025, đường bộ chiếm khoảng 74,7% khối lượng hàng hóa vận chuyển, trong khi đường thủy nội địa chiếm 20,1%, đường biển 5,06% và đường sắt 0,19%. Chi phí đường bộ còn phát sinh từ xe chạy rỗng, ùn tắc và thời gian chờ. Chuyển sang đường thủy hoặc đường sắt chỉ hiệu quả khi có lịch chạy ổn định, kết nối đầu cuối và dịch vụ trọn gói.
Tại cảng, kho bãi, cửa khẩu, hàng hóa phải chờ kiểm tra, lấy hoặc trả container, trong khi lịch tàu, xe và kho chưa được phối hợp tốt. Khảo sát năm 2025 cho thấy 87,3% người trả lời lựa chọn hạ tầng là yếu tố cần cải thiện; 70,9% lựa chọn thủ tục hải quan và 67,3% lựa chọn chi phí logistics. Thủ tục, kiểm tra chuyên ngành và sự thiếu ổn định của lịch vận chuyển cũng làm tăng tồn kho và vốn lưu động. Khai lại dữ liệu, sử dụng song song hồ sơ điện tử và giấy, kiểm tra lặp hoặc chậm chia sẻ kết quả đều làm tăng chi phí và thời gian chờ.
Giảm chi phí logistics phải được nhìn trên toàn chuỗi, không phải giảm ở khâu này nhưng lại làm tăng chi phí ở khâu khác. Vì vậy, cần đo lường cụ thể theo từng ngành hàng, từng hành lang, xác lập đường cơ sở trước khi can thiệp và đánh giá lại sau đó. Dư địa giảm chi phí nằm trong từng kilômét chạy rỗng, từng giờ chờ tại cảng, cửa khẩu, từng chứng từ phải khai lại, từng ngày tồn kho và từng khoản phụ phí chưa minh bạch.
Cần xây dựng hệ thống đo lường chi phí logistics quốc gia
Trước hết, cần xây dựng hệ thống đo lường chi phí logistics quốc gia, theo dõi chi phí theo ngành hàng, hành lang và loại hình doanh nghiệp. Bộ chỉ số tối thiểu gồm chi phí trên tấn, container hoặc lô hàng; thời gian toàn hành trình và thời gian chờ; tỷ lệ giao đúng hạn; số ngày tồn kho; tỷ lệ chạy rỗng; chi phí lưu container, lưu bãi và số lần khai lại dữ liệu.
Trên các hành lang có lưu lượng lớn, cần tăng kết nối đa phương thức, phát triển sà lan, tàu ven biển và tàu hàng theo lịch khi đủ nguồn hàng; đồng thời gom hàng, tổ chức hàng hai chiều và chia sẻ container rỗng. Hiệu quả phải được đo bằng tổng chi phí và độ tin cậy của toàn hành lang.
Tại cảng, sân bay, cửa khẩu và kho, cần áp dụng đặt lịch, điều phối phương tiện, trao đổi dữ liệu trước khi hàng đến và công khai trạng thái xử lý. Giá, phí và phụ phí phải minh bạch về mức thu, căn cứ, thời điểm áp dụng và dịch vụ tương ứng.
Cùng với đó, cần lập bản đồ thủ tục của các nhóm hàng xuất khẩu chủ lực, xác định chứng từ trùng lặp và khâu phát sinh chi phí; thực hiện cung cấp dữ liệu một lần, xử lý trước khi hàng đến, quản lý rủi ro, hậu kiểm khi đủ điều kiện và chia sẻ kết quả. Mỗi cải cách cần được thí điểm và đo bằng thời gian giải phóng hàng, số lần kiểm tra, số chứng từ và chi phí thực tế. Số hóa chỉ có ý nghĩa khi bỏ được khâu giấy và nhập liệu lặp lại.
Cần phát triển nền tảng điều phối logistics dùng chung, kết nối các hệ thống hiện có, không yêu cầu doanh nghiệp báo cáo lại. Dữ liệu phục vụ theo dõi luồng hàng, năng lực cảng và kho, đặt lịch, cảnh báo ùn tắc và xử lý vướng mắc liên ngành. Nhà nước tập trung vào chuẩn dữ liệu, kết nối, quyền truy cập và bảo mật; trí tuệ nhân tạo (AI) có thể hỗ trợ dự báo, tối ưu tuyến, kiểm tra hồ sơ nhưng quyết định quản lý phải có căn cứ pháp lý và trách nhiệm rõ ràng.
Doanh nghiệp xuất nhập khẩu cần quản trị theo tổng chi phí đến thị trường, chuẩn hóa dữ liệu đơn hàng, kiểm soát tồn kho, lựa chọn điều kiện giao hàng và tuyến thay thế. Doanh nghiệp logistics trong nước cần liên kết cung cấp dịch vụ tích hợp, đầu tư hệ thống quản lý vận tải, kho, nâng năng lực đa phương thức và logistics lạnh.
Trong quý IV/2026, cần tập trung vào 5 việc: lựa chọn một số hành lang và chuỗi hàng có sản lượng lớn để đo đường cơ sở; lập danh mục điểm nghẽn và xác định cơ quan xử lý, thời hạn; rà soát phí, phụ phí và điều kiện dịch vụ cần minh bạch; lựa chọn thủ tục, kiểm tra chuyên ngành để thí điểm xử lý trước, quản lý rủi ro và chia sẻ dữ liệu; chuẩn bị kết nối dữ liệu giữa cơ quan nhà nước, cảng, kho, vận tải và doanh nghiệp trên nguyên tắc không khai lại.
Trong năm 2027, mỗi mô hình thí điểm cần có báo cáo trước và sau can thiệp, tập trung vào 4 kết quả: tổng chi phí lô hàng, thời gian toàn hành trình, tỷ lệ giao đúng hạn và chi phí phát sinh do chờ đợi. Chỉ nhân rộng khi mô hình chứng minh hiệu quả, có nguồn lực vận hành và không tạo thêm thủ tục.
Để các giải pháp đi vào thực tế, cần xác định rõ đầu mối và trách nhiệm xử lý từng điểm nghẽn, đồng thời tăng cường phối hợp giữa các bộ, ngành, địa phương, hiệp hội và doanh nghiệp. Theo đó, có thể phát huy vai trò đầu mối của Bộ Công Thương trong theo dõi Chiến lược phát triển dịch vụ logistics quốc gia, thị trường và dữ liệu; vai trò của Bộ Tài chính trong các vấn đề về hải quan, thuế, phí thuộc thẩm quyền và Cơ chế một cửa quốc gia; Bộ Xây dựng trong lĩnh vực vận tải, kết cấu hạ tầng và kết nối đa phương thức.
Các bộ quản lý chuyên ngành chịu trách nhiệm về tiêu chuẩn và kiểm tra chuyên ngành; địa phương xử lý tổ chức giao thông, kết nối đầu cuối, mặt bằng và thủ tục thuộc thẩm quyền. Hiệp hội và doanh nghiệp cung cấp dữ liệu có căn cứ, tham gia thí điểm và chịu trách nhiệm về giải pháp kinh doanh.
Mục tiêu giảm chi phí logistics chỉ trở thành kết quả thực tế khi mỗi điểm nghẽn có người chịu trách nhiệm, mỗi giải pháp có đường cơ sở và mỗi kết quả được lượng hóa.
