Tổng công trình sư có thể nhận được mức lương 300 triệu đồng/tháng
Bộ Khoa học và Công nghệ đề xuất nhiều cơ chế mới, trong đó Tổng công trình sư có thể nhận mức thu nhập tới 300 triệu đồng/tháng để tăng sức cạnh tranh nhân lực.
Tổng công trình sư có thể nhận được mức lương 300 triệu đồng/tháng. Đây là thông tin được nêu tại Hội thảo “Góp ý hoàn thiện cơ chế tài chính đối với nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược thuộc Chương trình quốc gia đặc biệt sử dụng ngân sách Nhà nước” do Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ Quốc gia (NAFOSTED), Bộ Khoa học và Công nghệ tổ chức ngày 9/7, tại Hà Nội.
Nội dung này được đưa vào các quy định tại Dự thảo Thông tư quy định việc lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí ngân sách nhà nước đối với các nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược thuộc Chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia đặc biệt về công nghệ chiến lược, theo quy định tại Điều 7 Nghị định số 260/2026/NĐ-CP.

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Ngọc Chiến, Giám đốc Quỹ Phát triển Khoa học và Công nghệ Quốc gia phát biểu tại Hội thảo. Ảnh: Thu Phương - TTXVN
* 6 nhóm cơ chế tài chính đột phá
Giới thiệu Dự thảo Thông tư trên, bà Nguyễn Thị Kim Thành, Kế toán trưởng Quỹ NAFOSTED cho biết, yêu cầu xây dựng cơ chế đặc thù đã được đặt ra rõ trong Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị với mục tiêu thu hút, trọng dụng các nhà khoa học đầu ngành, chuyên gia và Tổng công trình sư trong, ngoài nước thông qua chính sách cạnh tranh về thu nhập, môi trường làm việc và điều kiện sinh sống.
Từ thực tiễn đó, nhóm soạn thảo xác định bốn điểm nghẽn lớn của cơ chế tài chính hiện nay, gồm: Chế độ đãi ngộ chưa đủ sức cạnh tranh; phương thức lập dự toán vẫn theo khoản mục chi thay vì theo vòng đời công nghệ; chưa có cơ chế sử dụng quỹ dự phòng rủi ro; chưa cho phép triển khai đồng thời nhiều phương án nghiên cứu độc lập đối với cùng một nhiệm vụ.
Để khắc phục những điểm nghẽn này, Dự thảo Thông tư đề xuất 6 nhóm cơ chế tài chính đột phá gồm: Cơ chế đãi ngộ nhân lực tham gia nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược; kinh phí dự phòng tối đa 10% tổng kinh phí nhiệm vụ; quản lý và quyết toán theo kết quả, mức khoán; cho phép triển khai nhiều phương án nghiên cứu độc lập; trao quyền tự chủ lựa chọn nhà cung cấp; và quản lý theo chuỗi nhiệm vụ, tạo sự linh hoạt trong tổ chức thực hiện. Đặc biệt, Dự thảo lần đầu đề xuất khung thu nhập cạnh tranh cho đội ngũ nhân lực chủ chốt, tham khảo kinh nghiệm từ Singapore và một số quốc gia có khoa học công nghệ phát triển, được điều chỉnh theo sức mua tương đương của Việt Nam. Theo đó, mức đề xuất tối đa là 300 triệu đồng/tháng đối với Tổng công trình sư, 250 triệu đồng/tháng đối với Kiến trúc sư trưởng, 150 triệu đồng/tháng đối với Chủ nhiệm nhiệm vụ hoặc Chủ tịch Hội đồng và 40 triệu đồng/tháng đối với các chuyên gia, nhà khoa học tham gia. Mức 300 triệu đồng/tháng dành cho Tổng công trình sư được đề xuất cao hơn mức quy đổi nhằm tăng sức cạnh tranh đối với nguồn nhân lực đặc biệt khan hiếm. Theo bà Nguyễn Thị Kim Thành, Dự thảo Thông tư đánh dấu sự chuyển đổi từ tư duy “quản lý chi phí” sang “đầu tư cho phát triển công nghệ chiến lược”, tạo nền tảng thu hút nhân tài, làm chủ công nghệ và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
* Phát triển và thương mại hóa trên 30 sản phẩm công nghệ chiến lược
Ông Nguyễn Minh Quân, chuyên viên Quỹ NAFOSTED chia sẻ tại Hội thảo một số nội dung về Chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia đặc biệt về công nghệ chiến lược giai đoạn 2026–2030. Chương trình được xây dựng với 5 quan điểm chủ đạo: Lấy sản phẩm làm mục tiêu; lấy công nghệ chiến lược, đặc biệt là công nghệ lõi, làm nền tảng; phát huy vai trò trung tâm của doanh nghiệp trong thương mại hóa; gắn phát triển công nghệ với tự chủ quốc gia, quốc phòng, an ninh; bảo đảm lộ trình triển khai linh hoạt theo chuỗi giá trị và được cập nhật thường xuyên theo yêu cầu thực tiễn.
Mục tiêu đến năm 2030 là phát triển và thương mại hóa trên 30 sản phẩm công nghệ chiến lược, làm chủ hoàn toàn ít nhất 12 công nghệ lõi, đưa trên 10 sản phẩm cạnh tranh thành công trên thị trường khu vực và quốc tế, đồng thời hình thành tối thiểu 5 chuỗi sản phẩm công nghệ chiến lược. Các nhiệm vụ sẽ được tổ chức xuyên suốt từ xác định bài toán thực tiễn, phát triển công nghệ, hoàn thiện sản phẩm đến thương mại hóa và tham gia chuỗi giá trị toàn cầu.

Tiến sĩ Trần Đỗ Đạt, Phó Viện trưởng Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam - Hàn Quốc (Vkist) chia sẻ ý kiến tại Hội thảo. Ảnh: Thu Phương - TTXVN
Điểm mới quan trọng là phương thức quản lý theo kết quả đầu ra. Kinh phí được bố trí theo các mốc đánh giá gắn với sản phẩm cụ thể; việc tiếp tục cấp vốn, gia hạn hoặc dừng nhiệm vụ sẽ căn cứ vào kết quả thực tế. Cơ cấu nguồn lực dự kiến gồm khoảng 70% từ ngân sách nhà nước, phần còn lại huy động từ doanh nghiệp, các quỹ khoa học và công nghệ, quỹ đầu tư, nguồn tài trợ và các nguồn hợp pháp khác.
Chương trình cũng áp dụng nhiều cơ chế đột phá như cho phép nhiều tổ chức cùng nghiên cứu một mục tiêu để lựa chọn phương án tối ưu, triển khai cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox), chấp nhận rủi ro trong nghiên cứu và tăng quyền tự chủ cho tổ chức chủ trì.
Đồng thời, Nhà nước sẽ thí điểm cơ chế cam kết mua trước có điều kiện đối với sản phẩm công nghệ chiến lược, hỗ trợ hình thành thị trường đầu ra và thực hiện chính sách đãi ngộ đặc biệt đối với đội ngũ Tổng công trình sư, Kiến trúc sư trưởng cùng các nhân lực khoa học, công nghệ trình độ cao. Những cơ chế này được kỳ vọng tạo động lực mới cho phát triển công nghệ chiến lược, nâng cao năng lực cạnh tranh và tự chủ công nghệ của đất nước.
Chia sẻ tại Hội thảo, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Ngọc Chiến, Giám đốc Quỹ Phát triển Khoa học và Công nghệ quốc gia cho biết, trong nhiều năm qua, các nhiệm vụ khoa học và công nghệ chủ yếu được tiếp cận dưới góc độ nghiên cứu và phương thức quản lý mang tính hành chính. Trước yêu cầu mới, theo chỉ đạo của lãnh đạo Bộ Khoa học và Công nghệ, Ban soạn thảo Thông tư đã xây dựng một cơ chế mang tính đột phá cả về tư duy quản lý, cơ chế tài chính và phương thức tổ chức thực hiện, lấy sản phẩm và hiệu quả ứng dụng làm trung tâm. Dự thảo đã được báo cáo lãnh đạo Bộ, xin ý kiến rộng rãi các bộ, ngành, địa phương, được công bố công khai trên cổng thông tin điện tử để các chuyên gia, nhà khoa học và cộng đồng doanh nghiệp nghiên cứu, đóng góp ý kiến.
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Ngọc Chiến nhận định, hội thảo là dịp quan trọng để lắng nghe, tiếp thu các góp ý xác đáng, qua đó hoàn thiện khung Chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia đặc biệt về công nghệ chiến lược cũng như cơ chế tài chính đi kèm với mục tiêu tạo đột phá trên ba phương diện. Đó là: Đổi mới tư duy quản lý, đổi mới cơ chế tài chính và chuyển từ cách tiếp cận quản lý theo “nhiệm vụ nghiên cứu” sang phát triển các dự án công nghệ gắn với sản phẩm và thị trường.
Bộ Khoa học và Công nghệ mong muốn phát đi một thông điệp: Cần có cơ chế đột phá, xây dựng những chính sách đủ sức cạnh tranh ở tầm khu vực và quốc tế, góp phần thu hút, trọng dụng nhân tài và khơi thông nguồn lực cho phát triển công nghệ chiến lược. Cùng với đó là lan tỏa tinh thần đổi mới này đến cộng đồng khoa học và doanh nghiệp, để khi Chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia đặc biệt về công nghệ chiến lược giai đoạn 2026–2030 được phê duyệt và Thông tư được ban hành sẽ có ngày càng nhiều đề xuất, sáng kiến và dự án tham gia phát triển các công nghệ, sản phẩm chiến lược của quốc gia.












