TP.HCM cần gỡ 4 nút thắt để khoa học công nghệ dẫn dắt kinh tế

Để tăng trưởng hai con số với sự dẫn dắt của khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo, TP.HCM cần gỡ ngay bốn nút thắt lớn.

LTS: Bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, Đại hội XIV của Đảng trao ngọn cờ tiên phong cho khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo. Đây chính là chìa khóa then chốt, là động lực quyết định để bứt tốc tăng trưởng, phát triển bền vững. Đối với TP.HCM, định hướng chiến lược này mang ý nghĩa sống còn.

Chỉ khi hệ sinh thái khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo được khơi thông nguồn lực, kích hoạt mạnh mẽ, mục tiêu tăng trưởng hai con số mới có cơ sở vững chắc để thành hiện thực. Qua đó, kiến tạo những giá trị thụ hưởng đích thực, tạo sức bật mạnh mẽ cho nền kinh tế TP.HCM.

*****

Văn kiện Đại hội XIV của Đảng đã xác lập khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo (KHCN, ĐMST) và chuyển đổi số là động lực chính của tăng trưởng nhanh và bền vững.

Tại TP.HCM, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ TP lần thứ I cũng đặt ra các chỉ tiêu phát triển rất cao. Cụ thể, GRDP tăng bình quân 10%-11%/năm, kinh tế số chiếm 30%-40% GRDP, tổng chi xã hội cho R&D đạt 2%-3% GRDP và tối thiểu 4%-5% chi ngân sách dành cho KHCN và chuyển đổi số.

Trao đổi với báo Pháp Luật TP.HCM, PGS-TS Đỗ Phú Trần Tình, Viện trưởng Viện Phát triển chính sách ĐHQG-HCM, Trường ĐH Kinh tế - Luật, nhìn nhận TP.HCM hội tụ đầy đủ các điều kiện nền tảng của một trung tâm KHCN, ĐMST lớn. Tuy nhiên, ông cũng chỉ ra những nút thắt cần sớm khắc phục để KHCN đi vào thực tiễn.

 Các đại biểu trải nghiệm các sản phẩm công nghệ chiến lược quốc gia trong tại triển lãm chào mừng Đại hội đại biểu Đảng bộ TP.HCM lần thứ I, nhiệm kỳ 2025-2030, tháng 10-2025. Ảnh: THUẬN VĂN

Các đại biểu trải nghiệm các sản phẩm công nghệ chiến lược quốc gia trong tại triển lãm chào mừng Đại hội đại biểu Đảng bộ TP.HCM lần thứ I, nhiệm kỳ 2025-2030, tháng 10-2025. Ảnh: THUẬN VĂN

Còn khoảng cách giữa tiềm lực và năng lực chuyển hóa

. Phóng viên: Thưa ông, tiềm lực KHCN, ĐMST hiện nay của TP.HCM đã đủ để gánh vác vai trò động lực chính cho tăng trưởng hai con số?

+ PGS-TS Đỗ Phú Trần Tình: TP.HCM đã tích lũy được một nền tảng KHCN và ĐMST có chiều sâu trong giai đoạn 2021-2025, song vẫn còn khoảng cách giữa tiềm lực và năng lực chuyển hóa.

Về nền tảng, tăng trưởng của TP đã có sự dịch chuyển thực chất khi năng suất các nhân tố tổng hợp đóng góp trên 50% GRDP, kinh tế số duy trì xu hướng gia tăng tỉ trọng, phản ánh sự chuyển dịch sang mô hình dựa trên tri thức.

Khu vực doanh nghiệp ghi nhận tỉ lệ ĐMST đạt 37,8%, số đơn sở hữu trí tuệ trung bình khoảng 9.299 đơn mỗi năm, cho thấy năng lực sáng tạo nội sinh đang được cải thiện. Hệ sinh thái khởi nghiệp phát triển mạnh với hơn 2.000 startup, chiếm trên 50% cả nước. Quy mô hệ sinh thái đạt khoảng 5,22 tỉ USD, đứng thứ ba Đông Nam Á và tiệm cận top 100 toàn cầu.

Hạ tầng và nhân lực KHCN với hơn 21.000 người, cùng sự hiện diện của nhiều tập đoàn lớn đã tạo nền tảng kết nối vào chuỗi giá trị công nghệ quốc tế. Chuyển đổi số tiếp tục dẫn đầu cả nước với tỉ lệ phủ sóng 5G đạt 82%, có 16 trung tâm dữ liệu công suất thiết kế 84 MW và mô hình quản trị đang chuyển dần sang dựa trên dữ liệu.

Tuy nhiên, tốc độ chuyển hóa vẫn chưa tương xứng với tiềm lực. Tỉ trọng giá trị tăng thêm của kinh tế số TP.HCM chỉ tăng từ 11,07% GRDP năm 2021 lên 13,42% năm 2025, thấp hơn Hà Nội (17,34%) và Hải Phòng (22,28%).

Các điểm nghẽn về thể chế, mức độ gắn kết giữa viện, trường và doanh nghiệp, thiếu hụt các không gian thử nghiệm công nghệ quy mô lớn vẫn chưa được xử lý căn cơ.

Điều này cho thấy TP đã có nền tảng đủ mạnh để bứt phá nhưng để KHCN và ĐMST thực sự trở thành động lực chủ yếu của tăng trưởng, yêu cầu đặt ra không nằm ở một bước chuyển thực chất về năng lực tổ chức thực thi.

 PGS-TS Đỗ Phú Trần Tình, Viện trưởng Viện Phát triển chính sách ĐHQG-HCM, Trường ĐH Kinh tế - Luật.

PGS-TS Đỗ Phú Trần Tình, Viện trưởng Viện Phát triển chính sách ĐHQG-HCM, Trường ĐH Kinh tế - Luật.

. Nhìn thẳng vào thực trạng, theo ông, đâu là những nút thắt lớn nhất đang kìm hãm hệ sinh thái KHCN và ĐMST của TP.HCM?

+ Có bốn nút thắt lớn đang kìm hãm sự phát triển của hệ sinh thái KHCN và ĐMST của TP.

Thứ nhất, khoảng cách giữa mục tiêu chính sách và năng lực thực thi. TP đã xác lập rõ vai trò của KHCN và ĐMST trong mô hình tăng trưởng, tuy nhiên quá trình tổ chức thực hiện vẫn chưa đáp ứng yêu cầu. Cơ chế, nguồn lực đã có nhưng bộ máy vận hành còn thiếu tính linh hoạt, quy trình triển khai còn phân tán, mức độ phối hợp giữa các cơ quan chưa đồng bộ.

Thứ hai, hạn chế trong liên kết giữa nghiên cứu, đào tạo và thị trường. Hệ sinh thái đang có thế mạnh trong tạo lập tri thức nhưng còn hạn chế trong thương mại hóa sản phẩm nghiên cứu. Quan hệ hợp tác giữa viện nghiên cứu, cơ sở đào tạo và doanh nghiệp chưa phát triển theo chiều sâu, chưa hình thành được cơ chế phối hợp hiệu quả để giải quyết các bài toán thực tiễn. Khi kết quả nghiên cứu chưa được thương mại hóa mạnh, vai trò của KHCN đối với tăng năng suất và tăng trưởng sẽ không phát huy được đầy đủ.

Thứ ba, hạ tầng cho các lĩnh vực công nghệ cao và công nghệ lõi chưa đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Mặc dù TP đã hình thành một số nền tảng quan trọng nhưng các cấu phần then chốt như hạ tầng dữ liệu, năng lực tính toán, không gian thử nghiệm, cơ chế chia sẻ tài nguyên vẫn chưa được hoàn thiện và vận hành ở quy mô đủ lớn. Điều này làm hạn chế khả năng phát triển các ngành công nghệ mũi nhọn và thu hút các dự án công nghệ quy mô lớn.

Thứ tư, nguồn nhân lực chất lượng cao chưa đáp ứng yêu cầu của giai đoạn phát triển mới. Vấn đề đặt ra không chỉ là quy mô mà còn là chất lượng, cơ cấu và cơ chế sử dụng nhân lực chất lượng cao. TP chưa hình thành được hệ thống chính sách cũng như hệ sinh thái đủ hiệu quả để thu hút, giữ chân và phát huy đội ngũ chuyên gia, nhà khoa học, kỹ sư trình độ cao trong và ngoài nước. Việc phân bổ nguồn nhân lực giữa các khu vực phát triển cũng còn thiếu cân đối.

Trong bốn nút thắt này, tôi cho rằng nút thắt quyết định vẫn nằm ở năng lực tổ chức thực thi.

 Hoạt động nghiên cứu tại Trường ĐH Bách khoa, Đại học Quốc gia TP.HCM. Ảnh: NTCC

Hoạt động nghiên cứu tại Trường ĐH Bách khoa, Đại học Quốc gia TP.HCM. Ảnh: NTCC

Hoàn thiện các cơ chế cho KHCN phát triển

. TP.HCM không thiếu ý tưởng, đề tài nghiên cứu nhưng trên thực tế, tỉ lệ thương mại hóa, tức là chuyển hóa chất xám thành giá trị đóng góp trực tiếp vào GRDP vẫn chưa tương xứng?

+ TP.HCM không thiếu chất xám ở đầu vào mà thiếu cơ chế chính sách đủ mạnh cho thị trường ở đầu ra. Đây là một hạn chế khi số lượng nhiệm vụ nghiên cứu được nghiệm thu lớn nhưng tỉ lệ thương mại hóa còn thấp, nhiều kết quả đã sẵn sàng chuyển giao vẫn chưa đi vào thị trường hiệu quả. Điều đó phản ánh khoảng cách giữa hoạt động khoa học và quá trình tạo lập giá trị kinh tế vẫn còn đáng kể.

Nguyên nhân cốt lõi nằm ở sự lệch pha giữa hệ thống nghiên cứu và hệ thống thị trường. Hoạt động khoa học lâu nay chủ yếu được đánh giá theo tiêu chí học thuật và quy trình, trong khi doanh nghiệp lại vận hành theo tiêu chí hiệu quả, tốc độ và khả năng mở rộng. Khi hai hệ quy chiếu này chưa được kết nối ngay từ khâu hình thành nhiệm vụ, kết quả nghiên cứu dù đạt yêu cầu kỹ thuật vẫn khó trở thành sản phẩm thương mại.

Hơn nữa, các rào cản về tài chính cho giai đoạn hoàn thiện công nghệ, thiếu hạ tầng thử nghiệm, bất cập trong định giá và chuyển giao tài sản trí tuệ, cùng cơ chế quản lý tài sản công khá phức tạp đã làm gián đoạn chuỗi chuyển hóa từ nghiên cứu đến thị trường. Vì vậy, nhiều sản phẩm dừng lại ở mức hoàn thiện kỹ thuật mà chưa trở thành hàng hóa để thương mại hóa.

Điểm đáng ghi nhận là tư duy chính sách đã có bước điều chỉnh theo hướng tiệm cận thị trường, tăng quyền tự chủ và chấp nhận rủi ro trong ĐMST, đồng thời triển khai các mô hình thí điểm để thúc đẩy thương mại hóa.

Tuy nhiên, để tạo chuyển biến thực chất, cần hoàn thiện các thiết chế giúp tạo cầu thị trường, đặc biệt là cơ chế mua sắm công đối với công nghệ ở giai đoạn tiền thương mại hóa và cơ chế đặt hàng từ doanh nghiệp ngay từ đầu. Khi thị trường trở thành điểm khởi phát của nghiên cứu thì KHCN mới thực sự đi vào sản xuất, nâng cao năng suất và đóng góp trực tiếp vào tăng trưởng kinh tế.

 TP.HCM cần lựa chọn một số lĩnh vực trọng điểm, trong đó có logistics số để triển khai cơ chế thử nghiệm có kiểm soát trong khung thời gian 6-12 tháng. Ảnh: THUẬN VĂN

TP.HCM cần lựa chọn một số lĩnh vực trọng điểm, trong đó có logistics số để triển khai cơ chế thử nghiệm có kiểm soát trong khung thời gian 6-12 tháng. Ảnh: THUẬN VĂN

Quy hoạch lại phân khu chức năng KHCN&ĐMST

. Với những điểm nghẽn đã được nhận diện, theo ông, đâu là những việc cần làm ngay và làm thật quyết liệt nhằm thúc đẩy tăng trưởng GRDP của TP.HCM?

+ Điều đầu tiên, theo tôi, TP.HCM phải quy hoạch lại phân khu chức năng KHCN và ĐMST gắn với quy hoạch không gian phát triển mới. TP cần xác lập rõ nơi nào là trung tâm R&D và tài chính công nghệ, nơi nào là cực sản xuất thông minh, nơi nào là cực logistics - cảng - năng lượng. Đi kèm đó là cơ chế điều phối thống nhất, liên thông quy hoạch đất đai, hạ tầng số, dữ liệu và giao thông. Nếu không hoàn thành bước này, lợi thế quy mô sau sáp nhập sẽ không chuyển hóa thành năng lực cạnh tranh thực chất.

Thứ hai, phải đưa cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) vào vận hành thực chất với danh mục lĩnh vực cụ thể và thời hạn rõ ràng. TP cần lựa chọn một số lĩnh vực trọng điểm như trí tuệ nhân tạo, dữ liệu, logistics số, y tế số, công nghệ xanh… để triển khai trong khung thời gian 6-12 tháng.

Thứ ba, TP phải tái cấu trúc cách sử dụng ngân sách cho KHCN theo hướng tập trung và dẫn dắt. Nguồn lực công được ưu tiên cho các hạng mục mà khu vực tư nhân chưa thể đầu tư như hạ tầng dữ liệu dùng chung, hệ thống tính toán hiệu năng cao, trung tâm thử nghiệm công nghệ… để giải quyết các bài toán lớn của đô thị và cơ chế đồng tài trợ cho thương mại hóa.

Cùng với đó là vận hành hiệu quả quỹ đầu tư mạo hiểm của TP theo nguyên tắc thị trường, lựa chọn công nghệ chiến lược và đội ngũ có năng lực, bảo đảm cơ chế đầu tư và thoái vốn minh bạch, chuyên nghiệp.

Thứ tư, TP.HCM lựa chọn một số cụm công nghệ có khả năng tạo giá trị gia tăng cao trong trung hạn như AI, dữ liệu và điện toán, bán dẫn và sản xuất thông minh, công nghệ sinh học và y sinh, logistics số và cảng thông minh, năng lượng mới, vật liệu mới... Mỗi cụm cần được giao chỉ tiêu cụ thể về doanh thu, xuất khẩu, số doanh nghiệp tham gia, số hợp đồng chuyển giao, năng suất lao động và mức đóng góp vào GRDP.

. Xin cảm ơn ông.

Đẩy mạnh cơ chế sandbox

TP.HCM hiện sở hữu một nền tảng thể chế mạnh với hệ thống chính sách tương đối đồng bộ, từ Nghị quyết 57-NQ/TW, Nghị quyết 193/2025/QH15, Luật Khoa học, công nghệ và ĐMST năm 2025, Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025, đến các cơ chế đặc thù như Nghị quyết 98/2023, Nghị quyết 260/2025 của Quốc hội và Quyết định 05/2026/QĐ-UBND. Đây là bước tiến lớn về mặt chính sách, tạo ra khung thể chế tương đối thuận lợi cho phát triển KHCN và ĐMST.

Tuy nhiên, cần khẳng định rằng khung thể chế dù đầy đủ đến đâu cũng chưa đồng nghĩa với việc đã hình thành một “đường băng hoàn chỉnh”. Điểm hạn chế hiện nằm ở tầng thực thi cụ thể theo từng lĩnh vực, nơi các cơ chế vẫn đang trong quá trình thiết kế và thử nghiệm.

PGS-TS ĐỖ PHÚ TRẦN TÌNH

LÊ THOA thực hiện

Nguồn PLO: https://plo.vn/tphcm-can-go-4-nut-that-de-khoa-hoc-cong-nghe-dan-dat-kinh-te-post912085.html