TS Châu Đình Linh: TP HCM cần 'hệ sinh thái' tài chínhcho các dự án lớn
TP HCM đang đẩy mạnh các dự án công nghiệp - năng lượng quy mô lớn, đặt ra yêu cầu cấp thiết về nguồn vốn dài hạn và hệ sinh thái tài chính phù hợp. TS Châu Đình Linh, Giảng viên Đại học Ngân hàng TP HCM, đã chỉ ra những điểm nghẽn trong quá trình triển khai hiện nay.
PV: Thưa ông, để hình thành trục công nghiệp - năng lượng - dịch vụ kỹ thuật cao tại TP HCM, nhu cầu vốn rất lớn và dài hạn. Từ góc nhìn tài chính - ngân hàng, theo ông, cơ chế huy động vốn nào cần được ưu tiên?
TS Châu Đình Linh: Không có một công cụ tài chính duy nhất nào đủ sức giải bài toán vốn cho các dự án công nghiệp - năng lượng quy mô lớn. Nhu cầu vốn hiện nay rất lớn, dài hạn và cần được huy động từ nhiều kênh đồng thời.
Để trả lời, trước hết cần nhìn vào bức tranh thực tế của các doanh nghiệp trong trục. Giai đoạn 2026-2030, Tổng công ty Cổ phần Dịch vụ Kỹ thuật Dầu khí Việt Nam (PTSC) định hướng phát triển ba trụ cột: dầu khí - LNG, năng lượng tái tạo ngoài khơi và điện hạt nhân; năm 2025, đạt doanh thu thuần hơn 32.556 tỉ đồng, tăng 37% so với năm trước. Còn Tổng công ty Khí Việt Nam (PV GAS) đã triển khai chiến lược “hạ tầng đi trước” với tổng mức đầu tư hơn 100 nghìn tỉ đồng, tương đương khoảng 3,8 tỉ USD; giai đoạn 2026-2030, tập trung vào ba trụ cột: phát triển cảng LNG hiện đại, mở rộng mạng lưới đường ống dẫn khí và tăng cường hợp tác quốc tế.

TS Châu Đình Linh, Giảng viên Đại học Ngân hàng TP HCM
Con số này nói lên điều gì? Rằng nhu cầu vốn là cực kỳ lớn, dài hạn và không thể trông chờ vào một kênh đơn lẻ. Do đó, tôi đề xuất sự phối hợp bốn công cụ:
Thứ nhất là tín dụng ngân hàng theo dòng tiền dự án (Project Finance), tức ngân hàng cấp tín dụng dựa trên dòng tiền từ hợp đồng dài hạn thay vì tài sản thế chấp. Mô hình này phổ biến trên quốc tế và phù hợp với các dự án LNG, điện khí. Trong đó, ngân hàng thẩm định khả năng trả nợ qua doanh thu hợp đồng, không phải tài sản bảo đảm. Đây là chuẩn quốc tế mà hệ thống ngân hàng Việt Nam cần gấp rút nâng cấp năng lực thẩm định.
Thứ hai là trái phiếu xanh (Green Bond) và trái phiếu hạ tầng năng lượng. Các dự án LNG, điện gió ngoài khơi… hoàn toàn đủ điều kiện tiếp cận thị trường trái phiếu quốc tế. Đây là kênh huy động vốn rẻ hơn so với vay ngân hàng thương mại, đặc biệt khi lãi suất USD quốc tế đang có xu hướng hạ nhiệt từ đỉnh năm 2023-2024. Tuy nhiên, điều kiện tiên quyết là doanh nghiệp phải có xếp hạng tín nhiệm quốc tế (credit rating).
Thứ ba là mô hình hợp tác công - tư (PPP). PPP đặc biệt phù hợp cho hạ tầng kho cảng LNG, nơi Nhà nước giữ quyền kiểm soát chiến lược, còn khu vực tư nhân và FDI bổ sung vốn, công nghệ và năng lực vận hành.
Thứ tư là xây dựng các quỹ đầu tư hạ tầng năng lượng. Đây là mô hình mà Việt Nam chúng ta nên cân nhắc.
PV: Nhiều quốc gia hiện nay cạnh tranh bằng năng lực đổi mới tài chính, từ tín dụng xanh, tài trợ dự án theo dòng tiền đến các quỹ đầu tư năng lượng. Theo ông, TP HCM cần làm gì để hình thành hệ sinh thái tài chính đủ sức hỗ trợ LNG, điện gió ngoài khơi, hydrogen và logistics năng lượng?
TS Châu Đình Linh: Đây là câu hỏi mà tôi đặc biệt tâm đắc, bởi vì nó chạm đúng vào điểm giao thoa giữa đổi mới thể chế tài chính và nhu cầu thực tiễn của ngành năng lượng.
Nghị quyết 260/2025/QH15 (Nghị quyết 98 sửa đổi) quy định thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển TP HCM, bao gồm cả quản lý khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo. Và điểm nhấn quan trọng là bổ sung quy định về thành lập Khu thương mại tự do TP HCM - khu vực thí điểm các cơ chế, chính sách đặc thù vượt trội nhằm thu hút tài chính, thương mại, dịch vụ chất lượng cao và hoạt động nghiên cứu - phát triển.
Cơ chế sandbox trong Nghị quyết 260, khi được triển khai bài bản, có thể tạo ra các làn sóng đổi mới tài chính rất cụ thể.

Vận chuyển chân đế xuất khẩu ra nước ngoài (ảnh: Ngọc Thịnh)
Thứ nhất là thí điểm tín dụng xanh với tiêu chuẩn rõ ràng. Hiện tín dụng xanh tại Việt Nam còn mang tính làm thương hiệu, thiếu bộ tiêu chí định lượng, cơ chế xác minh độc lập và ưu đãi lãi suất thực chất. Nghị quyết 260 có thể tạo cơ sở để TP HCM xây dựng khung tín dụng xanh chuẩn hóa, kết nối với thị trường tín chỉ carbon, qua đó hỗ trợ doanh nghiệp như PV GAS, PTSC tiếp cận nguồn vốn ưu đãi cho các dự án LNG, điện gió.
Thứ hai là tài trợ dự án theo dòng tiền. Mô hình này đã được Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB), Trung tâm Tài chính quốc tế (IFC) áp dụng hiệu quả tại nhiều nước Đông Nam Á nhưng ở Việt Nam vẫn vướng yêu cầu tài sản bảo đảm. TP HCM có thể thí điểm cho vay dựa trên hợp đồng dài hạn và coi đó là tài sản bảo đảm đáng tin cậy. Đây sẽ là bước đột phá giúp tháo gỡ điểm nghẽn vốn cho các doanh nghiệp năng lượng có dòng tiền ổn định nhưng tài sản thế chấp truyền thống không đủ theo đúng quy định hiện hành.
Thứ ba là xây dựng quỹ đầu tư năng lượng địa phương. Trong cơ chế thí điểm có thể thành lập một quỹ có pháp lý linh hoạt hơn các quỹ đầu tư thông thường, cho phép huy động từ nhà đầu tư tổ chức nước ngoài, với cơ chế thoái vốn rõ ràng qua sàn chứng khoán.
Tuy nhiên, cần nhìn nhận rõ một rủi ro quan trọng: cơ chế sandbox chỉ có giá trị nếu đi kèm với năng lực quản lý rủi ro đủ mạnh.
PV: Vậy nguồn lực đất đai và hạ tầng có thể trở thành “đòn bẩy tài chính” cho các dự án công nghiệp - năng lượng hay không? Và trong cấu trúc đó, PPP, trái phiếu hạ tầng hay quỹ đầu tư sẽ đóng vai trò như thế nào, thưa ông?
TS Châu Đình Linh: Có thể, nhưng chỉ như một phần của giải pháp, không phải toàn bộ. Nghị quyết 260 cho phép TP HCM khai thác giá trị gia tăng từ đất đai và hạ tầng để tái đầu tư cho phát triển, tương tự mô hình Singapore hay Hồng Kông (Trung Quốc) và Tokyo (Nhật Bản) đã áp dụng hiệu quả nhiều thập niên.
Tuy nhiên, với các dự án công nghiệp - năng lượng của Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam (Petrovietnam), đòn bẩy đất đai vẫn có nhiều giới hạn lớn. Đầu tiên là giới hạn về địa lý, các dự án chiến lược của Petrovietnam như kho cảng LNG, nhà máy điện khí, cơ sở chế tạo điện gió nằm ở vùng ven biển và khu công nghiệp, không phải nơi đất có giá trị cao như khu vực đô thị trung tâm.
Tiếp đến là giới hạn kỳ hạn không khớp. Giá trị đất tăng lên cần thời gian để hiện thực hóa, thường 5-10 năm sau khi hạ tầng hoàn thành. Trong khi đó, các dự án năng lượng cần vốn ngay từ giai đoạn đầu xây dựng. Đây là khoảng trống thanh khoản mà cơ chế đất đai không thể tự lấp đầy.
Cuối cùng là giới hạn về rủi ro tập trung. Nếu Petrovietnam hoặc các đơn vị thành viên dùng quỹ đất làm tài sản bảo đảm đồng thời để huy động vốn cho nhiều dự án, rủi ro sẽ tập trung quá mức vào một loại tài sản duy nhất. Điều này về nguyên tắc quản lý rủi ro là cảnh báo nguy hiểm.
Vậy, đòn bẩy đất đai nên đóng vai trò gì? Theo tôi, đất đai nên được xem là công cụ hỗ trợ để thu hút nhà đầu tư chiến lược, thông qua việc cấp quyền sử dụng đất dài hạn gắn với cam kết đầu tư hạ tầng năng lượng. Đây là cấu trúc giao dịch có thể áp dụng cho các dự án kho cảng LNG trung tâm hoặc các cơ sở chế tạo điện gió của PTSC tại vùng biển phía Nam.
Nhưng cần phải có thêm công cụ tài chính đi kèm, như trái phiếu xanh, PPP và cơ chế bảo lãnh của Chính phủ cho các dự án đặc biệt quan trọng về an ninh năng lượng. Ba công cụ này kết hợp với đòn bẩy đất đai mới tạo ra cấu trúc vốn đủ bền vững.
PV: TP HCM đang hướng tới vai trò trung tâm tài chính quốc tế. Theo ông, thành phố có thể hình thành một thị trường vốn đủ mạnh cho LNG, điện gió ngoài khơi, logistics và hạ tầng chiến lược hay không? Và rủi ro lớn nhất cần kiểm soát là gì?
TS Châu Đình Linh: Trước hết, về tiềm năng, để đạt được mức tăng trưởng thuận lợi nhất 10,5-11%, TP HCM cần thúc đẩy dòng vốn từ các dự án trọng điểm có nhà đầu tư chiến lược tham gia với dòng vốn dự kiến 5-10 tỉ USD mỗi dự án. Hiện thành phố đang phấn đấu thu hút 11 tỉ USD vốn đầu tư trong năm 2026, tập trung vào hai đề án trọng điểm là Trung tâm Tài chính quốc tế (IFC) và Khu thương mại tự do (FTZ).
Đây là những con số có căn cứ. Khi IFC TP HCM hình thành, sẽ cung cấp nền tảng cho thị trường trái phiếu địa phương phát triển hơn. Hiện nay, sau khủng hoảng trái phiếu doanh nghiệp 2022-2023, thị trường trái phiếu Việt Nam đang phục hồi nhưng vẫn thiếu sản phẩm dài hạn chất lượng cao. Các trái phiếu xanh do PTSC hay PV GAS phát hành, nếu có xếp hạng tín nhiệm quốc tế, hoàn toàn có thể trở thành hàng hóa chất lượng cho thị trường trái phiếu địa phương tại TP HCM.
Trong khi đó, FTZ sẽ giúp kết nối với nguồn vốn quốc tế. FTZ TP HCM là khu vực được thành lập để thực hiện thí điểm các cơ chế, chính sách đặc thù vượt trội nhằm thu hút đầu tư, tài chính, thương mại, dịch vụ chất lượng cao. Trong đó, đối với LNG và năng lượng tái tạo, vốn quốc tế không chỉ mang nguồn lực tài chính, mà còn mang theo công nghệ, tiêu chuẩn kỹ thuật và kinh nghiệm quản trị.

TP HCM phấn đấu thu hút 11 tỉ USD vốn đầu tư trong năm 2026
Tuy nhiên, có ba rủi ro lớn cần kiểm soát. Thứ nhất là rủi ro thể chế chưa theo kịp, tức khoảng cách giữa chính sách và thực thi còn khá lớn. Nhà đầu tư nước ngoài rất nhạy cảm với “chính sách trên giấy”, nếu không có cơ chế thực thi hiệu quả, dù Nghị quyết 260 tốt đến đâu cũng không huy động được vốn.
Thứ hai là rủi ro về giá và cơ chế giá năng lượng, đặc biệt với LNG. Như PV GAS đã kiến nghị, cần có cơ chế tiêu thụ LNG cho phát điện, cơ chế chuyển ngang giá và bao tiêu sản lượng điện dài hạn ở mức 75-80%. Nếu thiếu cơ chế giá minh bạch và hợp đồng bao tiêu ổn định, các tổ chức tài chính quốc tế sẽ không cấp vốn cho các dự án LNG.
Thứ ba là rủi ro quản trị và minh bạch thông tin. Khi thị trường vốn mở rộng, nguy cơ gian lận tài chính, thông tin bất cân xứng và xung đột lợi ích cũng gia tăng.
Vậy điều kiện để “thị trường vốn địa phương” thực sự phát huy tác dụng có thể tóm gọn trong bốn từ khóa: Pháp lý - Giá cả - Minh bạch và Quản trị rủi ro.
PV: Theo ông, điểm nghẽn lớn nhất hiện nay với các dự án công nghiệp - năng lượng quy mô lớn nằm ở đâu: thể chế, bộ máy thực thi hay khả năng hấp thụ vốn của doanh nghiệp?
TS Châu Đình Linh: Nghị quyết 260 được soạn thảo bài bản, có tư duy hệ thống. Tôi cho rằng thiết kế chính sách không phải điểm yếu nhất. Vấn đề không phải là “chiếc áo xấu”, mà là “người mặc áo chưa biết mặc” và “người đặt may áo chưa trao đủ kéo để cắt chỉ”.
Điểm nghẽn lớn nhất, theo tôi nằm ở hai tầng chồng lên nhau. Tầng 1, năng lực thực thi của bộ máy: “Dũng cảm ký tên”. Tầng 2, khả năng hấp thụ vốn của doanh nghiệp: “Cửa mở nhưng chân chưa bước”.
Vậy, đâu là điểm nghẽn số 1, nếu buộc phải chọn một? Tôi chọn: năng lực thực thi của bộ máy, cụ thể là tâm lý “sợ trách nhiệm” cá nhân của đội ngũ cán bộ trung gian và năng lực thực thi hiện tại của đội ngũ (không theo kịp sự phát triển)...
PV: Trân trọng cảm ơn ông!
Cơ chế sandbox trong Nghị quyết 260, khi được triển khai bài bản, có thể tạo ra các làn sóng đổi mới tài chính rất cụ thể. Tuy nhiên, cần nhìn nhận rõ một rủi ro quan trọng: cơ chế sandbox chỉ có giá trị nếu đi kèm với năng lực quản lý rủi ro đủ mạnh.











