TP. Hồ Chí Minh chuyển xuất khẩu từ tăng kim ngạch sang nâng cao giá trị

Từ năm 2026, xuất khẩu hàng hóa của TP. Hồ Chí Minh bước vào một giai đoạn mới với mục tiêu không chỉ duy trì vị trí dẫn đầu cả nước, mà còn hướng tới trở thành trung tâm luân chuyển hàng hóa của Đông Nam Á...

Sau giai đoạn 2020-2025, xuất khẩu hàng hóa của TP.HCM bước vào một giai đoạn mới. Ảnh minh họa.

Sau giai đoạn 2020-2025, xuất khẩu hàng hóa của TP.HCM bước vào một giai đoạn mới. Ảnh minh họa.

Trong giai đoạn 2026 - 2030, TP. Hồ Chí Minh đặt mục tiêu tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu bình quân 10-11%/năm; đưa tỷ trọng hàng công nghiệp chế biến, chế tạo lên trên 90% và trên 75% hàng hóa xuất khẩu vào các thị trường có Hiệp định Thương mại tự do (FTA). Tuy nhiên, để chuyển từ tăng kim ngạch sang tăng giá trị, thành phố phải đồng thời xử lý bài toán phụ thuộc vào khu vực FDI, chi phí logistics và những yêu cầu ngày càng cao của các thị trường quốc tế.

TỪ SẢN XUẤT, LOGISTICS ĐẾN CẢI CÁCH THỦ TỤC

Ông Nguyễn Ngọc Thạch, Phó Trưởng phòng Kinh tế Quốc tế, Sở Công Thương TP. Hồ Chí Minh, cho biết tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của thành phố tăng từ 40,2 tỷ USD năm 2020 lên 92,6 tỷ USD năm 2025, đóng góp khoảng 20% tổng kim ngạch xuất khẩu quốc gia dù chịu tác động của nhiều cuộc khủng hoảng toàn cầu. Kim ngạch xuất khẩu qua các cửa khẩu của thành phố lần đầu tiên sau một thời gian dài đạt mức tăng trưởng 7,82%, là tín hiệu về động lực mới từ không gian phát triển sau khi mở rộng địa giới hành chính.

Cơ cấu xuất khẩu cho thấy vai trò lớn của khu vực công nghiệp chế biến, chế tạo với tỷ lệ chiếm 76,7%; còn lại nông, lâm, thủy sản chiếm 15,9%. Số liệu được ông Ngô Chung Khanh, Phó Vụ trưởng Vụ Phát triển thị trường nước ngoài và Thương mại đa biên (Bộ Công Thương) cung cấp cho thấy, Hoa Kỳ hiện chiếm khoảng 25% tổng kim ngạch xuất khẩu của TP.Hồ Chí Minh, tiếp đến là Trung Quốc 15,1% và Liên minh châu Âu 14,3%.

Tuy nhiên, theo ông Thạch, để xuất khẩu bước sang mô hình tăng trưởng mới, TP. Hồ Chí Minh cần vượt qua ba điểm nghẽn lớn. Một là sự phụ thuộc đáng kể vào khối FDI, khi khu vực này đóng góp hơn 60% kim ngạch xuất khẩu. Hai là chi phí logistics quá cao, chiếm tới 16–20% giá thành sản phẩm. Ba là các rào cản quốc tế ngày càng gia tăng từ các hiệp định thương mại và thị trường quốc tế, bao gồm CPTPP, EVFTA, tiêu chuẩn xanh của EU và yêu cầu đặc thù từ Hoa Kỳ, Trung Đông.

Ở góc độ cơ quan ban hành chính sách, ông Khanh cho biết Việt Nam đã ký kết 17 FTA và gần như đã có quan hệ thương mại tự do với tất cả các khu vực lớn trên thế giới, nhưng tỷ lệ sử dụng C/O ưu đãi của CPTPP năm 2023 vẫn dưới 10%, EVFTA khoảng 34% và UKVFTA khoảng 38%. Điều đó có nghĩa lợi thế thuế quan từ các FTA chưa được chuyển hóa đầy đủ thành lợi thế xuất khẩu. Do đó, với TP. Hồ Chí Minh, bài toán không chỉ là có thêm FTA hay có thêm thị trường, mà là nâng năng lực doanh nghiệp để đáp ứng các điều kiện đi kèm.

"Luật chơi thương mại quốc tế đang chuyển từ FTA truyền thống dựa vào thuế quan, hải quan và quy tắc xuất xứ sang một hệ thống yêu cầu rộng hơn, phát triển bền vững, lao động, môi trường, an ninh chuỗi cung ứng, an ninh kinh tế khiến mô hình cạnh tranh dựa chủ yếu vào chi phí trở nên kém bền vững hơn", ông Khanh nhận định.

Kế hoạch hành động thực hiện Chiến lược xuất nhập khẩu hàng hóa trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh giai đoạn 2026-2030, được UBND thành phố ban hành tại Quyết định 4196/QĐ-UBND ngày 9/7/2026 đã xác định 6 nhóm giải pháp để hiện thực hóa các mục tiêu này.

Thứ nhất: Tập trung phát triển sản xuất và tạo nguồn cung bền vững: thu hút dòng vốn FDI thế hệ mới vào công nghiệp bán dẫn, năng lượng sạch, đồng thời thí điểm hình thành các trung tâm nông sản chế biến, sản phẩm OCOP nhằm hiện đại hóa nguồn cung.

Thứ hai: Hướng tới hoàn thiện thể chế và thủ tục hải quan, chống gian lận thương mại: số hóa toàn bộ thủ tục thông quan, siết chặt quản lý xuất xứ hàng hóa để ngăn chặn gian lận, bảo vệ uy tín hàng hóa Việt Nam, và xây dựng hệ thống cảnh báo sớm rủi ro các vụ kiện phòng vệ thương mại, với mục tiêu tỷ lệ giải phóng hàng hóa thông quan trên 95%.

Thứ ba: Về logistics, kế hoạch đặt mục tiêu tăng trưởng doanh thu dịch vụ logistics 13-16%/năm đến năm 2030, đóng góp 8-10% GRDP và đưa chi phí logistics so với GRDP xuống 11-14%, dựa trên Quyết định 4752/QĐ-UBND về Chiến lược phát triển logistics TP. Hồ Chí Minh cùng cơ chế đặc thù từ Nghị quyết 98/2023/QH15 và Nghị quyết 260/2025/QH15 của Quốc hội, tập trung hạ tầng kết nối các luồng hàng hóa ra Cát Lái, Cái Mép, Cần Giờ. Như vậy, logistics không còn là dịch vụ hỗ trợ xuất khẩu đơn thuần, mà trở thành một cấu phần của năng lực cạnh tranh.

Thứ tư: Nâng tỷ lệ nội địa hóa và giá trị gia tăng. Ở TP. Hồ Chí Minh, tỷ trọng FDI trên 60% kim ngạch xuất khẩu cũng là một trong ba điểm nghẽn, và mục tiêu nâng tỷ trọng hàng chế biến, chế tạo lên trên 90% đi kèm định hướng nâng tỷ trọng sản phẩm hàm lượng công nghệ lên khoảng 70% vào năm 2030 bước chuyển từ tăng lượng sang tăng chất của tăng trưởng xuất khẩu.

"Một điểm tựa ít được chú ý nhưng mang ý nghĩa thiết thực đối với doanh nghiệp là các chính sách hỗ trợ tài chính. Cụ thể, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 240/2026/NĐ-CP và Quyết định số 1253/QĐ-TTg (tháng 7/2026) về Đề án Hệ sinh thái tận dụng các FTA. Theo đó, doanh nghiệp tham gia sẽ được ngân sách hỗ trợ 2% lãi suất vay vốn (với mức hỗ trợ tối đa lên đến 600 triệu đồng/năm), đồng thời nhận được các hỗ trợ về mặt kỹ thuật. Để thụ hưởng chính sách này, doanh nghiệp phải vượt qua quy trình đánh giá, chấm điểm của Bộ Công Thương và Sở Công Thương – một cơ chế sàng lọc nhằm đưa nguồn lực đến đúng những đơn vị có năng lực tận dụng FTA", ông Thạch lưu ý.

ĐA DẠNG HÓA THỊ TRƯỜNG, NGUỒN CUNG GẮN VỚI TĂNG CƯỜNG VAI TRÒ CỦA KHU VỰC TƯ NHÂN

Thứ năm: Đa dạng hóa thị trường. Đại diện Sở Công thương TP. Hồ Chí Minh cho hay, thành phố sẽ mở rộng sang Trung Đông, Nam Á và Mỹ Latinh, chuyển xúc tiến thương mại từ diện rộng sang kết nối chuyên sâu theo từng ngành. Xuất khẩu trực tuyến qua các Trung tâm AFTEC kết hợp chương trình "Go Global" và "Go Digital" cũng nằm trong nhóm giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ.

Định hướng này tương đồng với khuyến nghị của ông Khanh. "Chúng ta phải đa dạng hóa để không phụ thuộc vào một thị trường duy nhất. Và việc đa dạng hóa phải diễn ra cả ở phía nguồn cung nguyên liệu".

Trước áp lực này ngày càng lớn khi các thị trường nhập khẩu thay đổi cách đánh giá hàng hóa, ông Khanh nhấn mạnh: “Doanh nghiệp hiện không thể chỉ dựa vào C/O để chứng minh nguồn gốc. Đối tác có thể yêu cầu thông tin về nhà cung cấp cấp 1, 2, 3, thậm chí sâu hơn, về nguồn nguyên liệu, quan hệ sở hữu, quá trình sản xuất và giá trị gia tăng tại Việt Nam. Rủi ro có thể xuất hiện ở một mắt xích sâu trong chuỗi cung ứng, nên doanh nghiệp phải biết rõ nhà cung cấp tới cấp 2, 3 và thậm chí cấp 4”.

Đây là lý do TP. Hồ Chí Minh đưa đa dạng hóa nguồn cung và quản trị xuất xứ vào nhóm giải pháp thứ năm: kiên quyết từ chối công nghệ tiêu tốn năng lượng, ưu tiên máy móc thiết bị công nghệ cao, đa dạng hóa nguồn nguyên liệu đầu vào; đồng thời hỗ trợ doanh nghiệp vượt qua các rào cản kỹ thuật mới, trong đó có CBAM, ESG, các tiêu chuẩn thị trường Âu - Mỹ và Halal.

Thứ sáu: Đặt trọng tâm vào phát huy vai trò doanh nghiệp tư nhân, liên kết vùng và các hiệp hội ngành hàng. Thành phố xác định sẽ làm cầu nối gắn kết doanh nghiệp trong nước với các tập đoàn FDI thông qua chuỗi cung ứng giá trị của các hiệp hội ngành hàng, trong khi các hiệp hội được nâng cao vai trò hỗ trợ, phản ánh khó khăn về thương mại và tiêu chuẩn ngành hàng, vốn là mắt xích thường bị bỏ qua trong các kế hoạch xuất khẩu trước đây, khi nguồn lực chính sách tập trung phần lớn vào doanh nghiệp FDI hoặc doanh nghiệp xuất khẩu quy mô lớn.

Như vậy, mô hình xuất khẩu mà TP. Hồ Chí Minh hướng tới trong giai đoạn 2026-2030 không chỉ là mô hình có kim ngạch lớn hơn, mà còn hướng tới đa dạng thị trường xuất khẩu hơn, chuỗi cung ứng minh bạch hơn, sản phẩm có hàm lượng công nghệ và giá trị gia tăng cao hơn, logistics hiệu quả hơn, thủ tục thông quan nhanh hơn, và khu vực doanh nghiệp tư nhân trong nước đóng vai trò lớn hơn trong chuỗi giá trị.

Nguyệt Hà

Nguồn VnEconomy: https://vneconomy.vn/tp-ho-chi-minh-chuyen-xuat-khau-tu-tang-kim-ngach-sang-nang-cao-gia-tri.htm