Trái phiếu doanh nghiệp chịu áp lực lãi suất tăng, đáo hạn dồn dập
Thị trường trái phiếu doanh nghiệp ghi nhận sự giảm tốc đáng kể trong quý III/2026 sau khi tăng mạnh vào quý trước, trong bối cảnh lãi suất phát hành tiếp tục đi lên và áp lực đáo hạn ngày càng lớn. Lãi suất phát hành ở một số nhóm doanh nghiệp đã tiến sát mức đỉnh của giai đoạn 2022-2023.
Theo báo cáo của Công ty cổ phần Xếp hạng tín nhiệm S&I (S&I Ratings), thị trường ghi nhận 153 đợt phát hành trái phiếu doanh nghiệp thành công trong quý III/2026, với tổng giá trị 179.400 tỷ đồng, giảm 26% so với quý II nhưng tăng 7,8% so với cùng kỳ năm trước.
Lũy kế 9 tháng năm 2026, tổng giá trị phát hành đạt 464.100 tỷ đồng. Trong khi đó, giá trị trái phiếu đáo hạn đạt 132.800 tỷ đồng, tăng 5,7%; giá trị mua lại trước hạn đạt 228.600 tỷ đồng, giảm 4,5%. Giá trị phát hành ròng đạt 102.600 tỷ đồng, đưa quy mô trái phiếu doanh nghiệp đang lưu hành lên khoảng 1,54 triệu tỷ đồng, tăng 7,1% so với cuối năm 2025.
Mức tăng này tương đối khiêm tốn so với tốc độ tăng trưởng GDP 9% và tăng trưởng tín dụng 11,59% trong 9 tháng. Nhu cầu vốn cao trong khi lãi suất phát hành tiếp tục đi lên khiến chi phí huy động qua trái phiếu gia tăng, ảnh hưởng đến quyết định phát hành của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, doanh nghiệp cũng phải thích ứng với các yêu cầu tuân thủ theo Nghị định 200/2026/NĐ-CP về chào bán, giao dịch trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ trong nước và chào bán trái phiếu ra thị trường quốc tế, có hiệu lực từ ngày 5/6/2026.
Áp lực chi phí vốn tiếp tục thể hiện qua mặt bằng lãi suất phát hành trái phiếu. Trong quý III, lãi suất tăng ở tất cả các nhóm ngành. So với mức đáy năm 2025, lãi suất coupon đã tăng bình quân khoảng 2,5 điểm phần trăm, dù tốc độ tăng có dấu hiệu chậm lại khi lãi suất tiến gần vùng đỉnh của giai đoạn 2022-2023.
Đáng chú ý, lãi suất phát hành bình quân của nhóm ngân hàng trong quý III đạt 8,85%/năm, vượt mức bình quân 8,7%/năm của năm 2022. Lãi suất của phần lớn các đợt phát hành nằm trong khoảng 8-9,7%/năm; một số trường hợp cao hơn 10%/năm, như Sacombank với lãi suất cố định 10%/năm và PVcomBank với lãi suất bằng bình quân lãi suất tiết kiệm cá nhân kỳ hạn 12 tháng cộng biên độ 4,6 điểm phần trăm, tương đương khoảng 10,4%/năm tại thời điểm báo cáo.
Ở nhóm bất động sản và các doanh nghiệp ngoài ngân hàng, lãi suất phát hành đã lên tới 12,5-13%/năm, dù vẫn thấp hơn vùng đỉnh 14-14,5%/năm của giai đoạn 2022-2023.
Mặt bằng lãi suất cao làm gia tăng chi phí huy động vốn, đặc biệt đối với các doanh nghiệp có đòn bẩy tài chính lớn hoặc nhu cầu vốn trung và dài hạn cao. Trong bối cảnh đó, khả năng tiếp cận thị trường trái phiếu không chỉ phụ thuộc vào nhu cầu huy động mà còn gắn với sức khỏe tài chính, khả năng tạo dòng tiền và mức độ chấp nhận rủi ro của nhà đầu tư.
Đáng chú ý, theo ước tính của S&I Ratings, áp lực thanh toán nợ sẽ gia tăng trong quý IV/2026, với khoảng 93.000 tỷ đồng trái phiếu đến hạn, mức cao nhất trong năm. Trong đó, nhóm bất động sản có khoảng 46.900 tỷ đồng, tương đương gần một nửa tổng giá trị đáo hạn toàn thị trường.
Sang năm 2027, tổng giá trị trái phiếu doanh nghiệp đáo hạn ước tính khoảng 276.000 tỷ đồng, tăng 22% so với năm 2026. Riêng nhóm bất động sản có giá trị trái phiếu đáo hạn khoảng 156.000 tỷ đồng, tương đương 57% tổng giá trị đáo hạn toàn thị trường.
Quy mô nghĩa vụ nợ này đặt ra yêu cầu lớn về dòng tiền, khả năng tái cấp vốn và cơ cấu lại nợ, đặc biệt đối với những doanh nghiệp có đòn bẩy tài chính cao hoặc phụ thuộc vào tiến độ bán hàng, thu hồi vốn từ dự án. Trong bối cảnh đó, phát hành mới không chỉ nhằm tài trợ các dự án mà còn là công cụ để doanh nghiệp cơ cấu lại các khoản nợ hiện hữu. Tuy nhiên, khả năng huy động vốn sẽ phụ thuộc vào chất lượng tín dụng, mức độ minh bạch và khả năng đáp ứng yêu cầu của nhà đầu tư.
Về trung hạn, các chuyên gia của S&I Ratings đánh giá triển vọng của thị trường trái phiếu doanh nghiệp vẫn tích cực, nhờ nhu cầu huy động vốn rất lớn từ khu vực doanh nghiệp và áp lực tái cấp vốn ngày càng gia tăng. Tuy nhiên, trong bối cảnh lãi suất còn ở mức cao, thị trường trái phiếu doanh nghiệp cần thêm thời gian tiếp tục quá trình tái cấu trúc theo hướng bền vững, thu hút được nhiều đối tượng nhà đầu tư, đảm nhiệm vai trò là kênh dẫn vốn trung, dài hạn chủ chốt cho nền kinh tế.
Song song với phát triển thị trường trong nước, Việt Nam đang tìm cách đa dạng hóa nguồn vốn thông qua kênh quốc tế. Chính phủ đang xem xét khả năng phát hành trái phiếu quốc tế trở lại, đồng thời thúc đẩy lộ trình nâng xếp hạng tín nhiệm quốc gia lên mức đầu tư (Investment Grade), nhằm cải thiện khả năng tiếp cận thị trường vốn toàn cầu. Xu hướng này cho thấy nỗ lực giảm phụ thuộc vào tín dụng trong nước và mở rộng khả năng tiếp cận nhà đầu tư quốc tế. Tuy nhiên, huy động vốn ngoại không mặc nhiên đồng nghĩa với chi phí thấp hơn, bởi doanh nghiệp còn phải tính đến phí thu xếp, chi phí xếp hạng tín nhiệm và phòng ngừa rủi ro tỷ giá.
Trong bối cảnh áp lực đáo hạn gia tăng, triển vọng thị trường trái phiếu doanh nghiệp sẽ phụ thuộc không chỉ vào quy mô phát hành mà còn vào khả năng thanh toán, chất lượng tín dụng và mức độ minh bạch của tổ chức phát hành. Đây cũng là những yếu tố quyết định khả năng phát triển thị trường theo hướng bền vững, mở rộng cơ sở nhà đầu tư và nâng cao vai trò cung ứng vốn trung, dài hạn cho nền kinh tế.

