Trao quyền cho cộng đồng, giữ nguồn lợi thủy sản

HNN - Ngày 27/8/2026, Bộ Nông nghiệp và Môi trường ban hành Văn bản hợp nhất số 79/2026/VBHN-TT-BNNMT hướng dẫn về bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản, trong đó nhấn mạnh vai trò của đồng quản lý và tổ chức cộng đồng. Với Huế, địa phương từng tiên phong xây dựng mô hình quản lý nghề cá dựa vào cộng đồng, đây là dịp để nhìn lại những gì đã làm được, những khoảng trống và cách trao quyền thực chất hơn cho người dân trong bảo vệ nguồn lợi thủy sản.

Còn nhiều khoảng trống

Đồng quản lý nguồn lợi thủy sản không phải câu chuyện mới ở Huế. Đầu những năm 2000, mô hình quản lý nghề cá dựa vào cộng đồng đã được triển khai trên đầm phá Tam Giang - Cầu Hai, tạo nền tảng để người dân cùng tham gia bảo vệ và khai thác hợp lý nguồn lợi.

Các nghiên cứu về Tam Giang - Cầu Hai từng ghi nhận vai trò của cộng đồng trong quản lý ngư trường, giải quyết xung đột và bảo vệ nguồn lợi; những mô hình tự quản, đồng quản lý ở đây thông qua các chi hội nghề cá từng được xem là kinh nghiệm đáng chú ý của cả nước.

Theo báo cáo của Sở Nông nghiệp và Môi trường, thành phố hiện có 22 khu bảo vệ nguồn lợi thủy sản trên đầm phá Tam Giang - Cầu Hai, diện tích 11.639ha, chiếm gần 53% diện tích đầm phá; trong đó 614,2ha là vùng lõi bảo vệ nghiêm ngặt. Thành phố còn có 3 khu vực cấm khai thác thủy sản có thời hạn ở vùng ven biển Lăng Cô, Vinh Lộc - Chân Mây và Phong Quảng - Phong Phú.

Ông Trần Quang Nhất, Chi cục trưởng Chi cục Thủy sản cho biết, 22 khu bảo vệ hiện được giao cho 22 chi hội nghề cá quản lý trực tiếp. Toàn thành phố hiện có 74 chi hội cơ sở với hơn 5.000 hội viên sinh hoạt trong Hội Nghề cá thành phố. Các chi hội tham gia tuần tra, bảo vệ và tái tạo nguồn lợi, trở thành lực lượng tại chỗ kết nối cơ quan quản lý với cộng đồng. Từ đầu năm 2026 đến nay, Chi cục phối hợp với chính quyền địa phương và các chi hội thả hơn 1,5 triệu con giống vào sông, biển và đầm phá để tái tạo nguồn lợi thủy sản. Mặc dù vậy, sau hơn hai thập niên, mô hình đang đứng trước những khó khăn khá rõ.

Hiện nay, nhiều chi hội thiếu kinh phí hoạt động, phương tiện tuần tra và trang thiết bị; một số phương tiện đã cũ, công suất thấp. Lực lượng nòng cốt ở nhiều nơi lớn tuổi, thiếu lớp kế cận; năng lực quản lý, điều hành, tài chính và tiếp cận tín dụng còn hạn chế. Điều này cho thấy, trao quyền quản lý không đồng nghĩa cộng đồng đã đủ năng lực thực hiện quyền ấy.

Quy định mới của Luật Thủy sản và Văn bản hợp nhất số 79/2026/VBHN-TT-BNNMT ngày 27/8/2026 đã xác định rõ hơn quyền và trách nhiệm của tổ chức cộng đồng trong đồng quản lý: Tuần tra, kiểm tra, yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý vi phạm, tham vấn đối với hoạt động tác động đến hệ sinh thái, hưởng chính sách hỗ trợ và thành lập quỹ cộng đồng; đồng thời Nhà nước hỗ trợ, kiểm tra, giám sát hoạt động đồng quản lý.

Vấn đề đối với Huế vì thế không chỉ là duy trì chi hội, mà là làm thế nào để những quyền được pháp luật ghi nhận trở thành năng lực bảo vệ nguồn lợi ở thực địa.

Lấy hiệu quả làm thước đo

Huế đang điều tra, đánh giá nguồn lợi tại các vùng sông, đầm phá, ven biển; rà soát các nghề, ngư cụ bị cấm và nghiên cứu chuyển đổi những hình thức khai thác gây tác động xấu. Một số hướng phục hồi hệ sinh thái được triển khai như phục hồi cỏ biển Cồn Tè, sinh cảnh thủy sinh nước ngọt trên sông Ô Lâu, rừng ngập mặn Rú Chá.

Từ những việc đã làm, có lẽ nên nhìn lại hiệu quả từng khu bảo vệ: Nguồn lợi thay đổi thế nào, sinh cảnh có được cải thiện không, người dân quanh khu bảo vệ được hưởng lợi ra sao? Chi hội nào hoạt động hiệu quả, nơi nào đang yếu và nguyên nhân là gì?

Đây cũng là lúc rà soát lại toàn bộ hệ thống tổ chức cộng đồng, nhất là 22 chi hội trực tiếp quản lý khu bảo vệ. Nơi hoạt động tốt nên được tăng thêm phương tiện, kinh phí và quyền chủ động; nơi yếu cần xác định nguyên nhân để củng cố hoặc tổ chức lại. Giao quyền cũng nên đi cùng trách nhiệm và nguồn lực để cộng đồng có thể thực hiện quyền của mình.

Một hướng khác đáng để các chi hội nghề cá quan tâm là mở rộng không gian sinh kế ra biển, gắn với quy hoạch không gian biển, bảo vệ hệ sinh thái và khả năng tổ chức sản xuất phù hợp. Với Huế, các chi hội nghề cá có thể tham gia từ góc độ đại diện ngư dân, góp ý quy hoạch, xác định vùng phù hợp, giám sát tác động môi trường và kết nối người dân với doanh nghiệp, hợp tác xã khi điều kiện cho phép. Khi giảm hoặc cấm một nghề khai thác, người dân cũng cần được hỗ trợ chuyển đổi bằng vốn, kỹ thuật và đầu ra phù hợp, thay vì chỉ dừng ở tuyên truyền hoặc xử phạt.

Thước đo cuối cùng không nên chỉ là số khu bảo vệ, số lần tuần tra hay số lượng con giống được thả, mà là nguồn lợi có phục hồi, sinh cảnh có tốt lên và người dân có sống được từ một nghề cá bền vững hay không. Khi đó, quyền của cộng đồng mới thực sự trở thành sức mạnh bảo vệ nguồn lợi thủy sản.

Nguyễn Đính

Nguồn Thừa Thiên Huế: https://huengaynay.vn/kinh-te/trao-quyen-cho-cong-dong-giu-nguon-loi-thuy-san-170726.html