Trí thức kiều bào tại Pháp góp sức phát triển khoa học-công nghệ
Trí thức kiều bào tại Pháp vững tin rằng khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo là con đường tất yếu để Việt Nam hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước hùng cường. Với thể chế phù hợp, con người là trung tâm, đầu tư đúng hướng, hành động quyết liệt, Việt Nam nhất định trở thành một quốc gia phát triển trong thập kỷ tới.

Tọa đàm không chỉ là dịp để trí thức kiều bào tại Pháp chia sẻ tâm huyết và khát vọng cống hiến cho giai đoạn phát triển mới của dân tộc Việt Nam.
Ngày 31/1 tại Đại sứ quán Việt Nam tại Pháp, đông đảo giáo sư, tiến sĩ, bác sĩ giảng dạy và công tác trong những ngành trọng yếu tại Pháp và một số nước châu Âu như kinh tế, năng lượng, y tế, xây dựng, giáo dục đại học… đã tham dự Tọa đàm khoa học lần thứ 2 với chủ đề "Vai trò của trí thức Việt Nam tại Pháp trong phát triển khoa học-công nghệ và đổi mới sáng tạo tại Việt Nam".
Tọa đàm lần này là hoạt động đầu tiên trong năm 2026 của trí thức kiều bào tại Pháp để chào mừng thành công rất tốt đẹp của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV và để trao đổi cụ thể về khả năng đóng góp thiết thực hơn nữa cho việc thực hiện Nghị quyết 57 của Bộ Chính trị "Đột phá phát triển khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia".

Trí thức kiều bào tại Pháp rất tin tưởng về sự bứt phá mạnh mẽ của đất nước trong kỷ nguyên mới.
Tại tọa đàm, trí thức kiều bào tại Pháp có nhiều ý kiến đóng góp với góc nhìn chuyên gia để có bước đột phá về khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo, tăng trưởng, chính sách vĩ mô về nhân lực cũng như việc tạo điều kiện thuận lợi để thu hút chất xám kiều bào.
Tầm nhìn sáng suốt của Đảng
Nghị quyết 57 đã vạch ra một lộ trình chiến lược nhằm đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển vào năm 2045 thông qua việc chuyển đổi từ mô hình dựa vào tài nguyên sang nền kinh tế tri thức. Văn kiện Đại hội lần thứ XIV của Đảng cũng đã đưa khoa học-công nghệ và đổi mới sáng tạo trở thành “đột phá chiến lược” để Việt Nam tự tin bước vào kỷ nguyên mới.

Tiến sĩ, bác sĩ Võ Toàn Trung khẳng định, cộng đồng trí thức kiều bào tại Pháp sẽ luôn đi theo ngọn cờ của Đảng, đóng góp hết mình vào việc xây dựng dân tộc Việt Nam hùng cường.
Theo Tiến sĩ, bác sĩ Võ Toàn Trung (Trưởng khoa Hồi phục chức năng tại Bệnh viện Bullion - Pháp), vượt lên trên một kế hoạch kinh tế, đây là lời kêu gọi hành động quyết liệt để Việt Nam tận dụng cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, khẳng định vị thế quốc gia thông qua sức mạnh nội tại của trí tuệ và đổi mới sáng tạo.
Để đạt mục tiêu trở thành quốc gia phát triển, yêu cầu cấp thiết là Việt Nam phải làm chủ các công nghệ cốt lõi trong các lĩnh vực tiên phong như bán dẫn, trí tuệ nhân tạo và đặc biệt là y sinh hiện đại. Tầm nhìn này dựa trên năm trụ cột phát triển toàn diện, bao gồm cải cách thể chế, phát huy nguồn lực trí thức, đầu tư tài chính chiến lược, thương mại hóa ứng dụng nghiên cứu khoa học và xây dựng hạ tầng dữ liệu.
Trong những thập kỷ tới, Việt Nam đứng trước cơ hội cũng là thách thức mang tính lịch sử: hiện thực hóa khát vọng trở thành quốc gia phát triển vào năm 2045. Đây không chỉ là một mục tiêu kinh tế, mà là thử thách toàn diện đối với trí tuệ và bản lĩnh của toàn dân tộc. Trong đó, một trong những tiêu chí cốt lõi của quốc gia phát triển là thu nhập bình quân đầu người vượt ngưỡng nền kinh tế thu nhập cao - khoảng 14.000 USD/người/năm theo giá hiện hành năm tài chính 2026. "Để đạt được mốc này, nền kinh tế Việt Nam buộc phải chuyển sang một trình độ phát triển khoa học-công nghệ hoàn toàn khác so với hiện nay", Tiến sĩ, bác sĩ Võ Toàn Trung nhìn nhận.
Theo Tiến sĩ Ứng Quốc Hùng, Kỹ sư trưởng - Tập đoàn tư vấn kỹ thuật đa ngành Setec (Pháp), từ kinh nghiệm quốc tế, nhiều quốc gia đi sau đã rút ngắn khoảng cách công nghệ trong vòng 20-30 năm nhờ chiến lược đúng đắn và thực thi kiên trì. Việt Nam hiện có những điều kiện thuận lợi nhất định: quy mô thị trường lớn, lực lượng lao động trẻ, hội nhập kinh tế sâu rộng, khả năng thích ứng nhanh với công nghệ mới và đang thu hút mạnh dòng vốn FDI trong các lĩnh vực công nghệ, điện tử, bán dẫn, năng lượng sạch, năng lượng tái tạo.

Theo Tiến sĩ Ứng Quốc Hùng, thu hút và phát huy hiệu quả đội ngũ trí thức người Việt Nam ở nước ngoài không chỉ bằng đãi ngộ mà cả việc trao quyền tham gia thực chất vào quản lý, hoạch định chiến lược và triển khai các chương trình khoa học-công nghệ trọng điểm. Đội ngũ này cần được nhìn nhận như một bộ phận cấu thành của nguồn lực quốc gia, chứ không chỉ là lực lượng hỗ trợ bên ngoài.
"Từ Đại hội XIII đến Đại hội XIV, Đảng ta kiên định đường lối thống nhất phát triển nhanh gắn với bền vững, không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng, hướng tới mục tiêu phát thải ròng bằng “0” (Net Zero) năm 2050, thể hiện rõ cam kết trách nhiệm và vai trò quan trọng của Việt Nam trước những thách thức toàn cầu. Trong dòng chảy thống nhất đó, Nghị quyết số 57 là bước cụ thể hóa chủ trương lớn của Đảng về phát triển khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, coi đây là động lực then chốt thúc đẩy phát triển. Do vậy việc ban hành Nghị quyết 57 cho thấy tầm nhìn chiến lược kịp thời của Đảng nhằm định hình con đường phát triển nhanh và bền vững của đất nước trong giai đoạn mới", Tiến sĩ Ứng Quốc Hùng nhấn mạnh.
Đề xuất để sớm đạt các mục tiêu của Nghị quyết 57
Tri thức kiều bào tại Pháp kiến nghị Đảng và Nhà nước xây dựng một chiến lược tổng thể, có tầm nhìn dài hạn, gắn chặt nghiên cứu với ứng dụng và thương mại hóa, đồng thời tập trung đầu tư chiều sâu cho những lĩnh vực có khả năng tạo ra giá trị gia tăng cao và góp phần nâng cao chất lượng sống của người dân.
Theo Tiến sĩ, bác sĩ Võ Toàn Trung (Trưởng khoa Hồi phục chức năng tại Bệnh viện Bullion - Pháp), định hướng hiện nay của Đảng và Nhà nước về chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo và công nghệ bán dẫn là hoàn toàn đúng đắn. Nhưng Việt Nam cần đồng thời tập trung vào các lĩnh vực có tiềm năng tạo đột phá dài hạn như công nghệ sinh học, y học hiện đại, vật liệu mới trong y học, tự động hóa và robot.
Thực tiễn quốc tế cho thấy, y học và công nghệ y học không chỉ là thước đo chất lượng sống của quốc gia phát triển mà còn đóng góp rất lớn cho nền kinh tế. Tại Pháp, chi tiêu y tế thường niên đã vượt 300 tỷ euro, tương đương khoảng 11,5% GDP (2023). Bài học quốc tế từ đại dịch Covid-19 càng cho thấy giá trị của đầu tư nghiên cứu cơ bản: AstraZeneca và Pfizer đã tận dụng thời cơ và vươn lên trở thành các tập đoàn hàng đầu thế giới nhờ làm chủ công nghệ cốt lõi.
"Nếu không có đầu tư bài bản và chiến lược, Việt Nam sẽ chỉ là thị trường tiêu thụ công nghệ chứ không thể tạo ra giá trị gia tăng cao. Vì vậy, chúng ta cần những định hướng khoa học-công nghệ trong các lĩnh vực có thể phát huy hiệu quả tiềm năng của đất nước đồng thời gắn liền với mục tiêu cụ thể và sản phẩm cụ thể", Tiến sĩ, bác sĩ Võ Toàn Trung nhận định.
Theo phân tích của trí thức kiều bào tại Pháp, thế giới hiện nay đang bước vào một giai đoạn biến động sâu sắc và khó lường, với nguy cơ xung đột lan rộng tại nhiều khu vực, làm suy giảm khả năng dự báo phát triển và gây xáo trộn nghiêm trọng đối với sự ổn định của các thị trường - một trong những nền tảng cốt lõi của tăng trưởng và phát triển kinh tế. Những bất ổn này không chỉ tác động đến kinh tế toàn cầu mà còn ảnh hưởng tiêu cực đến hầu hết các lĩnh vực phát triển của mỗi quốc gia, từ công tác dự báo nhu cầu tiêu thụ năng lượng, hoạch định chiến lược phát triển công nghiệp, cho đến quá trình chuyển đổi số và hiện đại hóa quản trị quốc gia.
Trong bối cảnh đó, sự phát triển bùng nổ của khoa học-kỹ thuật trong vài thập kỷ tới sẽ ở tốc độ thậm chí vượt ngoài tưởng tượng, nhất là các lĩnh vực trí tuệ nhân tạo, tự động hóa. Sự tiến bộ của công nghệ sẽ làm thay đổi căn bản cấu trúc của nền kinh tế và phương thức cạnh tranh toàn cầu. Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết đối với mỗi quốc gia phải có những nỗ lực vượt bậc nhằm làm chủ các công nghệ cốt lõi. Nếu không, nguy cơ tụt hậu xa hơn trong chuỗi giá trị toàn cầu là điều khó tránh khỏi. Vì vậy, một nền kinh tế tri thức - nơi giá trị gia tăng được tạo ra từ nghiên cứu, phát minh và công nghệ cốt lõi - chính là nền tảng cho sự phát triển bền vững.
Song song với thách thức công nghệ, việc xây dựng hệ thống y tế và giáo dục đạt trình độ quốc tế cũng là một nhiệm vụ hết sức nặng nề. Quá trình này không chỉ đòi hỏi nguồn lực đầu tư tài chính rất lớn - từ việc phát triển các hệ thống nghiên cứu công nghệ sinh học, hiện đại hóa cơ sở vật chất, đến thúc đẩy chuyển đổi số toàn diện - mà còn yêu cầu xây dựng đội ngũ chuyên gia và nhà khoa học có trình độ cao, tiệm cận các chuẩn mực quốc tế.
Đặc biệt, việc hiện đại hóa hệ thống giáo dục và đào tạo một cách đồng bộ, từ bậc tiểu học cho đến xây dựng các trường đại học và trung tâm nghiên cứu có tầm cỡ quốc tế, giữ vai trò then chốt trong việc hình thành đội ngũ nhân lực chất lượng cao cho đất nước trong thời gian ngắn nhất. Đây chính là một trong những thách thức lớn nhất đối với quá trình phát triển hiện nay. Do vậy, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cần được xác định là điểm khởi đầu của tự chủ công nghệ.
Bên cạnh đó, yêu cầu bảo đảm ổn định chính trị-xã hội trong bối cảnh biến động toàn cầu cũng đặt ra đòi hỏi phải tiến hành cải cách mạnh mẽ và toàn diện trong quản trị quốc gia. Điều này bao gồm việc xây dựng và triển khai các chính sách phù hợp và có tính đột phá, nhằm khơi thông, kích thích và phát huy hiệu quả mọi nguồn lực của đất nước, tạo nền tảng vững chắc cho phát triển nhanh và bền vững trong giai đoạn tới.

Theo Tiến sĩ Lê Hữu Điền Khuê, kinh nghiệm quốc tế cho thấy chỉ khi Nhà nước đóng vai trò dẫn dắt, với chính sách công nghiệp chủ động, đầu tư bài bản vào hạ tầng tính toán, dữ liệu và khung pháp lý tin cậy, thì AI mới thực sự trở thành động lực phát triển.
Đề cập những bài học từ Pháp và châu Âu về chiến lược công nghệ, Tiến sĩ Lê Hữu Điền Khuê, Giám đốc Nghiên cứu và Phát triển tại công ty khởi nghiệp GetVocal AI, cho biết khi cuộc đua trí tuệ nhân tạo (AI) toàn cầu ngày càng gay gắt, các quốc gia đang chuyển từ cách tiếp cận tự do sang chính sách công nghiệp chủ động. Cụ thể là Liên minh châu Âu và Pháp áp dụng mô hình “Con đường thứ ba” (hay còn gọi là hướng đi riêng), kết hợp khung pháp lý vững chắc với đầu tư công mạnh mẽ vào hạ tầng chủ quyền và cấu trúc hệ sinh thái.
Theo đó, Chiến lược Trí tuệ nhân tạo (AI) của EU được định hình bởi nhiệm vụ kép “xuất sắc và tin cậy”: thiết lập khung pháp lý đáng tin cậy đồng thời nỗ lực thu hẹp khoảng cách đầu tư với Hoa Kỳ và Trung Quốc. EU hướng đến việc trở thành trung tâm AI đẳng cấp thế giới trong khi vẫn giữ công nghệ lấy con người làm trung tâm và bảo đảm các quyền cơ bản.
Trong khối này, Pháp đã nổi lên như kiến trúc sư chính của chiến lược công nghiệp do Nhà nước dẫn dắt, coi AI không chỉ là một ngành mà còn là thành phần quan trọng của chủ quyền quốc gia. Chiến lược Hệ sinh thái “Nhà nước-Startup” đa giai đoạn với sự đầu tư mạnh mẽ từ 2018, đã đưa Pháp trở thành điểm đến hàng đầu cho đầu tư AI ở châu Âu.
Ngoài ra, để thu hút nhân tài, Pháp đã triển khai từ năm 2016 “Hộ chiếu Nhân tài” (Passeport talent, Visa Công nghệ Pháp), bỏ yêu cầu kiểm tra thị trường lao động cho lao động công nghệ nước ngoài và cung cấp giấy phép cư trú có hiệu lực đến bốn năm. Các biện pháp này, kết hợp với hỗ trợ pháp lý và hợp tác quốc tế thông qua các đối tác EU, phản ánh một hệ sinh thái AI Pháp toàn diện từ phòng thí nghiệm đến thị trường. Sự chuyển đổi của Pháp thành cường quốc AI không phải ngẫu nhiên, đó là kết quả của điều phối có chủ đích từ Nhà nước, gắn kết hạ tầng, vốn, nhân tài và quy định.
Tiến sĩ Lê Hữu Điền Khuê nhấn mạnh, việc “lấy con người làm trung tâm” cho thấy Việt Nam đang đi đúng hướng với xu hướng AI đạo đức toàn cầu. Tuy nhiên, Việt Nam cần có chính sách cụ thể về siêu máy tính, cơ chế tài chính sáng tạo, chương trình đào tạo tinh hoa, visa nhân tài chuyên biệt, kho dữ liệu tiếng Việt quy mô lớn.
Trong khi đó, Tiến sĩ Nguyễn Văn Tuân, nghiên cứu sinh sau Tiến sĩ ngành hóa học tại trường Chimie ParisTech thuộc Đại học PSL, cho rằng, để khoa học - công nghệ thực sự trở thành động lực phát triển, cần xây dựng môi trường học thuật minh bạch, dựa trên các chuẩn mực liêm chính quốc tế và cơ chế đánh giá khách quan. Tiến sĩ Nguyễn Văn Tuân kiến nghị triển khai hệ thống định danh học thuật thống nhất, tăng cường phản biện độc lập của cộng đồng khoa học trong và ngoài nước, qua đó bảo đảm nguồn lực đầu tư cho khoa học được sử dụng đúng mục đích, hiệu quả và bền vững.
Các trí thức kiều bào cho rằng, để khoa học-công nghệ thực sự trở thành động lực quốc gia, Đảng và Nhà nước cần xem xét một chiến lược tổng thể dựa trên năm trụ cột:
Về chính trị-thể chế, cần tiếp tục cải cách thể chế, đổi mới mô hình tăng trưởng, tạo thêm không gian cho sáng tạo và đổi mới.
Về con người-trí thức, đào tạo và quy hoạch đội ngũ trí thức cần gắn liền với chuỗi giá trị: nghiên cứu cơ bản - ứng dụng - thương mại hóa; huy động tổng lực trí thức Việt Nam trong và ngoài nước, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, thúc đẩy khởi nghiệp toàn dân, đặc biệt là sự tham gia trực tiếp của trí thức vào doanh nghiệp để tạo ra các sản phẩm “Made in Vietnam”.
Về đầu tư-cơ chế, cần hỗ trợ các dự án khoa học công nghệ đúng tầm, tạo thuận lợi cho dòng vốn đầu tư, chấp nhận rủi ro và độ trễ trong nghiên cứu; vận hành hiệu quả Quỹ phát triển khoa học công nghệ như một công cụ chiến lược của Nhà nước.
Về ứng dụng-sản xuất, cần gắn nghiên cứu với thị trường, thúc đẩy thương mại hóa kết quả khoa học, tạo làn sóng chuyển đổi từ sản xuất truyền thống sang nhà máy thông minh, tự động hóa và số hóa.
Về dữ liệu, cần xây dựng kho dữ liệu quốc gia và bảo đảm an ninh dữ liệu quốc gia, coi dữ liệu là hạ tầng thiết yếu của nền kinh tế số và kinh tế tri thức.
Phát huy tiềm năng của trí thức kiều bào tại Pháp
Theo số liệu sơ bộ, có khoảng 600 nghìn người Việt có trình độ trên đại học đang sinh sống tại hơn 100 nước, gồm nhiều chuyên gia, nhà khoa học xuất sắc trong các lĩnh vực mũi nhọn như điện tử, bán dẫn, vật liệu mới, y sinh học..., được coi là những lĩnh vực then chốt đối với phát triển khoa học-công nghệ hiện đại của Việt Nam. Tại Pháp, có khoảng 50 nghìn trí thức, chuyên gia, nhà nghiên cứu và doanh nhân hoạt động trong các lĩnh vực chuyên môn cao. Đây là tiềm năng to lớn để bổ sung nguồn lực trí tuệ cho đất nước trong giai đoạn phát triển mới.
Tại các buổi tiếp xúc cộng đồng trong các chuyến công du nước ngoài, Tổng Bí thư Tô Lâm đã nhiều lần nhắc tới công tác người Việt Nam ở nước ngoài và nhấn mạnh về việc khuyến khích, hoan nghênh người Việt Nam ở nước ngoài ở lại nước sở tại phát triển bản thân, sự nghiệp nhưng vẫn luôn cống hiến cho đất nước.

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Lê Hưng, Đại học Gustave Eiffel, đề xuất mô hình hệ sinh thái “5 nhà” gồm Nhà nước, nhà trường, nhà khoa học, nhà đầu tư và nhà doanh nghiệp, nhằm tạo hành lang thuận lợi cho nghiên cứu, ứng dụng và thương mại hóa sản phẩm khoa học - công nghệ.
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Lê Hưng, Đại học Gustave Eiffel, nhấn mạnh, những quan điểm mới này gợi ra khái niệm luân chuyển chất xám “brain circulation” với hình thái phù hợp hơn trong thế giới phẳng hiện nay. Khái niệm này có thể đồng hành cùng với hai khái niệm cũ hơn là chảy máu chất xám “brain drain” và thu hút chất xám “brain gain”. Với khái niệm luân chuyển chất xám thì sẽ không còn bên được và bên mất, mà chất xám được san sẻ giữa các quốc gia và chủ thể hưởng lợi sẽ là cộng đồng quốc tế. Với thời kỳ cách mạng công nghiệp lần thứ IV, với công nghệ phát triển như vũ bão hiện nay thì khái niệm này đi vào thực tế cũng dễ dàng hơn với sự trợ giúp của các thiết bị công nghệ tiên tiến. Điều này cũng mở ra những cơ hội mới để người Việt Nam ở nước ngoài có thể tham gia đóng góp, tham mưu, đề xuất những khuyến nghị vào công cuộc xây dựng Tổ quốc; nhưng cũng cần có một cơ chế, giải pháp cụ thể để thu hút, tận dụng tối đa nguồn chất xám này".
"Cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, đặc biệt là lực lượng thanh niên, sinh viên luôn vững tin vào sự lãnh đạo tuyệt đối của Đảng Cộng sản Việt Nam, tiếp tục phát huy và kế thừa sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân, kết hợp với sự nhất quán trong hệ thống chính trị và luôn cùng toàn Đảng, toàn dân, cùng đồng bào trong nước quyết tâm thực hiện thắng lợi những mục tiêu đề ra trong thời gian tới, hướng tới hai mục tiêu trăm năm mà Đảng đã đề ra", Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Lê Hưng bày tỏ.
Theo Nghiên cứu sinh Tiến sĩ Lê Văn Tranh tại Đại học Paris Panthéon-Assas, trong bối cảnh kinh tế tri thức và toàn cầu hóa, nguồn lực trí thức kiều bào được nhìn nhận như một lợi thế chiến lược cho phát triển quốc gia. Thay vì coi hiện tượng “chảy máu chất xám” đơn thuần là mất mát, nhiều quốc gia đang chuyển sang cách tiếp cận “tuần hoàn chất xám”, tức biến dòng di cư trí thức thành lợi ích thông qua việc kết nối và huy động cộng đồng chuyên gia ở nước ngoài phục vụ trong nước. Khái niệm “diaspora option” (lựa chọn kiều bào), nhấn mạnh rằng quốc gia có thể huy động từ xa mạng lưới trí thức người định cư ở nước ngoài để đóng góp cho quê hương mà không nhất thiết yêu cầu họ hồi hương vĩnh viễn.
Cách tiếp cận này giúp biến nguồn chất xám đã ra đi thành một dạng “tài sản xã hội” quý giá cho phát triển trong nước, thay vì mất hẳn vào tay các nước phát triển. Song song đó, quan niệm về dòng chảy trí thức cũng dần thay đổi từ “chảy máu chất xám” sang “thu hồi chất xám” và xa hơn là “luân chuyển chất xám”. Thực tế, ngày nay nhiều diasporas trí thức đang duy trì mối liên hệ chặt chẽ với quê hương, đóng góp kiến thức, công nghệ và mạng lưới toàn cầu cho đất nước xuất xứ.
Nghiên cứu sinh Tiến sĩ Lê Văn Tranh nhấn mạnh, kinh nghiệm quốc tế cho thấy, các quốc gia thành công không đặt mục tiêu cứng nhắc là đưa trí thức kiều bào hồi hương vĩnh viễn, mà ưu tiên khai thác sự tham gia linh hoạt, đa hình thức của diaspora trong một không gian xuyên quốc gia. Cách tiếp cận “diaspora option” và “luân chuyển chất xám” cho phép các quốc gia hưởng lợi từ tri thức, công nghệ và mạng lưới toàn cầu của kiều bào mà không làm gián đoạn sự nghiệp quốc tế của họ. Những quốc gia chủ động thiết kế thể chế để kết nối, huy động và duy trì sự tham gia bền vững của cộng đồng diaspora trí thức có thể tạo dựng được lợi thế vượt trội về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.

Đại sứ Nguyễn Thị Vân Anh, Trưởng Phái đoàn thường trực Việt Nam bên cạnh UNESCO, đề nghị các nhà khoa học và chuyên gia nghiên cứu thêm về lĩnh vực công nghệ thần kinh để có những tư vấn tham mưu phù hợp cho Chính phủ trong thời gian tới, cũng như xác định rõ những giới hạn để bảo đảm công nghệ không gây nguy hại cho xã hội.
Đối với Việt Nam, trong bối cảnh phần lớn trí thức kiều bào đang làm việc tại các trung tâm khoa học-công nghệ hàng đầu thế giới, việc chỉ tập trung vào chính sách “mời gọi hồi hương” sẽ khó khả thi và kém hiệu quả. Thay vào đó, cần thiết kế các cơ chế để kiều bào có thể tham gia từ xa, theo dự án, theo nhiệm vụ quốc gia cụ thể, như: đồng chủ nhiệm đề tài nghiên cứu, tổng công trình sư dự án khoa học-công nghệ trọng điểm, cố vấn chiến lược cho các trung tâm đổi mới sáng tạo, hoặc giảng dạy theo học kỳ ngắn hạn. Cách làm này vừa phù hợp với xu thế quốc tế, vừa thực tế hơn với điều kiện Việt Nam hiện nay.
"Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị có thể được xem là một bước ngoặt thể chế quan trọng, thể hiện sự chuyển biến căn bản trong tư duy phát triển: từ chỗ coi trí thức kiều bào là nguồn lực hỗ trợ mang tính bổ sung, sang xác lập họ như một bộ phận cấu thành của hệ sinh thái nhân lực khoa học-công nghệ quốc gia. Tuy nhiên, kinh nghiệm của các quốc gia đi trước cũng chỉ ra rằng, ý chí chính trị dù mạnh mẽ đến đâu cũng chỉ phát huy tác dụng khi được hiện thực hóa bằng các cơ chế vận hành cụ thể, ổn định và có khả năng dự đoán. Điều này đòi hỏi một môi trường thể chế minh bạch, cơ chế trọng dụng dựa trên năng lực và đóng góp, cùng với các chính sách nhất quán về thị thực, cư trú, đãi ngộ, tự chủ học thuật và đầu tư kinh doanh", nghiên cứu sinh Tiến sĩ Lê Văn Tranh chia sẻ.
Với thể chế phù hợp, con người là trung tâm, đầu tư đúng hướng và hành động quyết liệt, Việt Nam hoàn toàn có cơ hội bứt phá và nhất định sẽ khẳng định được vị thế của mình với định hình trở thành một quốc gia phát triển trong thập kỷ tới.
Tiến sĩ, bác sĩ Võ Toàn Trung
Trí thức kiều bào tại Pháp cho rằng thu hút và phát huy hiệu quả đội ngũ trí thức người Việt Nam ở nước ngoài không chỉ bằng đãi ngộ mà cần có cả việc trao quyền tham gia thực chất vào quản lý, hoạch định chiến lược và triển khai các chương trình khoa học-công nghệ trọng điểm. Đội ngũ này cần được nhìn nhận như một bộ phận cấu thành của nguồn lực quốc gia, chứ không chỉ là lực lượng hỗ trợ bên ngoài.
"Để hiện thực hóa được mục tiêu nước Việt Nam trở thành một đất nước phát triển vào năm 2045, cộng đồng trí thức kiều bào tại Pháp sẽ luôn đi theo dưới lá cờ của Đảng và phấn đấu hết mình nhằm biến những ý chí và khát vọng của dân tộc trở thành hiện thực", Tiến sĩ, bác sĩ Võ Toàn Trung khẳng định.
Những ý kiến tâm huyết của trí thức kiều bào tại Pháp không chỉ thể hiện tinh thần trách nhiệm cao đối với đất nước, mà còn là nguồn tham khảo quan trọng cho quá trình nghiên cứu, tham mưu và hoàn thiện chính sách để khoa học-công nghệ và đổi mới sáng tạo thực sự trở thành nền tảng đưa Việt Nam vững bước trên con đường phát triển nhanh và bền vững trong giai đoạn mới.












