Trung Đông và cuộc đua giành lại thị phần dầu mỏ

Sau những gián đoạn nghiêm trọng của dòng chảy năng lượng, các nhà sản xuất Vùng Vịnh đang tìm cách trở lại thị trường châu Á. Nhưng, phục hồi xuất khẩu mới chỉ là bước đầu: cạnh tranh giá bán, chi phí vận tải và khác biệt về lợi ích đang quyết định liệu sự trở lại ấy có thể chuyển thành vị thế bền vững.

Cuộc đua giá dầu

Khi dòng dầu qua eo biển Hormuz có thời điểm phục hồi mạnh vào cuối tháng 9, đầu tháng 10, Saudi Arabia, Các Tiểu vương quốc Arab Thống nhất (UAE), Iraq và Kuwait đứng trước cơ hội giành lại thị phần tại châu Á. Tuy nhiên, đà phục hồi vẫn mong manh khi rủi ro an ninh hàng hải tiếp tục cản trở hoạt động vận chuyển.

Theo dữ liệu của công ty phân tích Kpler ngày 8/10, lượng dầu thô vận chuyển qua Hormuz đạt bình quân 12 triệu thùng/ngày trong 2 tuần trước đó, tương đương khoảng 80% mức trước xung đột. Tính cả các tuyến thay thế, trong đó có cảng Yanbu của Saudi Arabia bên bờ Biển Đỏ và trung tâm xuất khẩu Fujairah của UAE, tổng lượng dầu thô xuất khẩu từ Trung Đông đã vượt mức bình quân trước xung đột, khoảng 18 triệu thùng/ngày, trong phần lớn tuần kết thúc ngày 3/10.

Tuy nhiên, theo ghi nhận ngày 8/10, số vụ tấn công trong tuần trước đó lên mức cao nhất kể từ xung đột, kéo lượng tàu tìm cách đi qua eo biển Hormuz xuống mức thấp nhất trong hơn 2 tháng. Đến ngày 11/10, lưu lượng tàu tiếp tục giảm mạnh sau những vụ tấn công mới.

Tàu thuyền hoạt động tại eo biển Hormuz, nhìn từ bán đảo Musandam, Oman. Ảnh: Reuters

Tàu thuyền hoạt động tại eo biển Hormuz, nhìn từ bán đảo Musandam, Oman. Ảnh: Reuters

Saudi Arabia là trường hợp điển hình cho những trở ngại đó. Riyadh từng chuyển lượng lớn dầu thô tới Yanbu thông qua đường ống Đông - Tây nhằm giảm phụ thuộc vào Hormuz. Tuy nhiên, các cuộc tấn công nhằm vào đường ống trong tháng 9, cùng rủi ro tại eo biển Bab el-Mandeb đã làm gián đoạn phương án thay thế. Energy Aspects dự báo sản lượng khai thác của nước này trong tháng 10 chỉ đạt khoảng 7,4 triệu thùng/ngày, tương đương 75% mức trước xung đột.

UAE duy trì xuất khẩu dầu thô bình quân khoảng 3,3 triệu thùng/ngày từ tháng 6, gần mức trước xung đột; trong khi Energy Aspects ước tính sản lượng khai thác cùng giai đoạn đạt khoảng 4,2 triệu thùng/ngày, cao hơn mức bình quân 3,9 triệu thùng/ngày trước xung đột.

Tuy nhiên, xét toàn khu vực, quá trình phục hồi vẫn chưa đồng đều: sản lượng dầu thô của Saudi Arabia, UAE, Iraq và Kuwait được Energy Aspects dự báo đạt bình quân 17,3 triệu thùng/ngày trong tháng 10, thấp hơn mức khoảng 21 triệu thùng/ngày trong 6 tháng trước xung đột.

Cán cân lợi ích

Với Saudi Arabia, bài toán giành lại thị phần không đơn thuần là tăng sản lượng, mà là tìm điểm cân bằng giữa giá bán và lượng khách hàng. Nếu tiếp tục hạn chế khai thác để nâng đỡ giá trong khi các đối thủ mở rộng nguồn cung, Riyadh có nguy cơ đánh mất khách hàng vào tay những nhà sản xuất sẵn sàng chào bán với điều kiện hấp dẫn hơn.

Saudi Arabia và Iraq đưa ra mức giảm giá đáng kể đối với một số khách hàng nhận dầu tại khu vực Vịnh. Đáng chú ý, Indian Oil Corporation, doanh nghiệp lọc dầu lớn nhất Ấn Độ, đã mua 2 triệu thùng dầu Basrah Medium của Iraq, giao trong giai đoạn từ ngày 22 đến 31/10, với mức chiết khấu 32 USD/thùng so với giá Dubai, theo điều kiện giao hàng tại cảng xuất khẩu.

Tuy nhiên, giá chào hấp dẫn mới chỉ là một phần của quyết định mua dầu. Với các nhà máy lọc dầu châu Á, hiệu quả kinh tế còn phụ thuộc vào chất lượng nguyên liệu, chi phí vận chuyển và bảo hiểm, cũng như khả năng giao hàng đúng lịch.

Đây cũng là nghịch lý của thị trường dầu mỏ hiện nay. Lượng dầu vận chuyển qua eo biển Hormuz đã phục hồi đáng kể so với giai đoạn gián đoạn nghiêm trọng, nhưng rủi ro hàng hải vẫn đẩy chi phí đưa dầu đến người mua lên cao. Trong điều kiện khủng hoảng, chi phí vận chuyển tàu chở dầu có thời điểm tăng từ khoảng 3% lên tới 27% giá dầu giao đến nơi tiêu thụ.

Các đường ống, cảng xuất khẩu thay thế và hệ thống dự phòng có thể giảm mức độ phụ thuộc vào một điểm nghẽn hàng hải, nhưng đều đòi hỏi nguồn vốn lớn, thời gian triển khai và khả năng bảo vệ hạ tầng. Với các nước nhập khẩu châu Á, đa dạng hóa nhà cung cấp, duy trì dự trữ và chuẩn bị phương án vận chuyển thay thế cũng là cách hạn chế tác động khi tuyến hàng hải trọng yếu bị gián đoạn.

Bài toán điều phối nguồn cung càng trở nên phức tạp khi lợi ích của các nhà sản xuất không hoàn toàn đồng nhất. Saudi Arabia phải cân nhắc giữa việc duy trì giá dầu và bảo vệ thị phần, trong khi những nước muốn gia tăng sản lượng có động lực tận dụng cơ hội để mở rộng đầu ra.

Tại cuộc họp đầu tháng này, 7 nước thuộc OPEC+ thống nhất duy trì mức yêu cầu sản lượng của tháng 9 trong tháng 11. Tuy nhiên, UAE đã rời OPEC và OPEC+ từ ngày 1/5, khiến việc phối hợp giữa các nhà sản xuất Vùng Vịnh thêm khó khăn.

Cuộc đua giành lại thị phần dầu mỏ Trung Đông vì thế không chỉ là cuộc cạnh tranh về sản lượng hay giá bán, mà còn là phép thử đối với khả năng dung hòa lợi ích trong một thị trường đầy biến số. Các nhà sản xuất cần khôi phục doanh thu và giữ chân khách hàng, trong khi các nước nhập khẩu phải bảo đảm nguồn cung ổn định với chi phí có thể dự tính. Những mục tiêu ấy khó đạt được nếu rủi ro hàng hải tiếp tục đẩy chi phí lên cao, còn cạnh tranh giá và sản lượng làm gia tăng sức ép lên thị trường.

Dầu mỏ vừa là nguồn thu của các nước xuất khẩu, vừa là nguồn năng lượng thiết yếu đối với sản xuất và đời sống. Vì thế, thách thức không chỉ là giành lại thị phần, mà còn là dung hòa lợi ích và phối hợp để duy trì dòng chảy năng lượng ổn định. Bởi, lợi thế thương mại chỉ có thể bền vững khi không phải đánh đổi bằng những gián đoạn kéo dài của toàn thị trường.

Trần Minh

Nguồn ANTG: https://cand.vn/trung-dong-va-cuoc-dua-gianh-lai-thi-phan-dau-mo-post824742.html