Thị trường carbon mở thêm lối cho dòng vốn xanh

Theo Phó Thống đốc NHNN Nguyễn Ngọc Cảnh, thị trường carbon vận hành hiệu quả có thể giúp doanh nghiệp tạo nguồn lực từ chính kết quả giảm phát thải, giảm phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng.

Tín dụng cung cấp vốn để doanh nghiệp đổi mới công nghệ, giảm phát thải. Kết quả giảm phát thải lại có thể tạo nguồn thu, hỗ trợ doanh nghiệp trả nợ và tiếp tục đầu tư. Mối liên hệ này được ông Nguyễn Ngọc Cảnh, Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đề cập tại Hội thảo "Chính sách tín dụng và thị trường carbon: Khơi thông dòng vốn xanh" tổ chức sáng 14/10.

Theo ông Nguyễn Ngọc Cảnh, chuyển đổi xanh đặt ra nhu cầu nguồn lực lớn cho đổi mới công nghệ, thay đổi phương thức sản xuất và sử dụng năng lượng hiệu quả. Bên cạnh ngân sách, thị trường vốn và thị trường tiền tệ, cần phát triển các cơ chế tạo động lực kinh tế để doanh nghiệp chủ động giảm phát thải.

Thị trường carbon thực hiện chức năng này thông qua việc xác lập hạn ngạch, đo lường kết quả giảm phát thải và hình thành giá giao dịch. Khi kết quả môi trường được chuyển thành giá trị kinh tế, doanh nghiệp có thêm nguồn lực để tiếp tục đầu tư cho quá trình chuyển đổi.

Phó Thống đốc NHNN Nguyễn Ngọc Cảnh phát biểu tại sự kiện. Ảnh: Thu Trang/Mekong ASEAN

Phó Thống đốc NHNN Nguyễn Ngọc Cảnh phát biểu tại sự kiện. Ảnh: Thu Trang/Mekong ASEAN

Ông Nguyễn Ngọc Cảnh cho biết thị trường thí điểm bước đầu hình thành với quy mô hơn 511 triệu tấn CO2 tương đương hạn ngạch phát thải được phân bổ cho các cơ sở thuộc ba ngành nhiệt điện, sắt thép và xi măng trong giai đoạn 2025 - 2026. Giai đoạn thí điểm kéo dài đến hết năm 2028, trước khi vận hành bắt buộc toàn diện từ năm 2029. BIDV là ngân hàng thanh toán duy nhất trong giai đoạn thí điểm.

Với hệ thống ngân hàng, tín dụng xanh tài trợ cho đầu tư và đổi mới công nghệ, từ đó tạo kết quả giảm phát thải làm cơ sở phát triển thị trường carbon. Ở chiều ngược lại, thị trường vận hành hiệu quả có thể bổ sung dòng tiền cho doanh nghiệp, hỗ trợ hoạt động kinh doanh và nâng cao chất lượng tín dụng.

Đến cuối tháng 6/2026, dư nợ tín dụng xanh đạt trên 856.000 tỷ đồng, tăng 9,87% so với cuối năm 2025. Giai đoạn 2017 - 2025, tốc độ tăng trưởng bình quân đạt trên 20%/năm. Dư nợ tập trung chủ yếu vào nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và bảo tồn đa dạng sinh học, chiếm trên 31%; năng lượng xanh chiếm gần 28%.

Dư nợ tín dụng đã được đánh giá rủi ro môi trường và xã hội đạt trên 6,2 triệu tỷ đồng, chiếm trên 31,33% tổng dư nợ toàn nền kinh tế.

Theo ông Nguyễn Ngọc Cảnh, hiệu quả tín dụng xanh cần được nhìn nhận cả ở kết quả tiết kiệm năng lượng, giảm phát thải và bảo vệ môi trường. Dữ liệu từ hoạt động đo lường, báo cáo, thẩm định và giao dịch carbon có thể hỗ trợ ngân hàng theo dõi hiệu quả sử dụng vốn.

"Về dài hạn, nguồn thu từ giảm phát thải giúp đa dạng hóa tài chính cho chuyển đổi xanh, giảm mức độ phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng," ông Cảnh chia sẻ tại hội thảo do Báo Tài chính - Đầu tư tổ chức.

Nhãn xanh không thay thế thẩm định tín dụng

Chia sẻ tại diễn đàn, ông Bùi Minh Giáp, Kinh tế trưởng Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) tại Việt Nam, cho biết Việt Nam cần khoảng 368 tỷ USD đầu tư bổ sung cho thích ứng biến đổi khí hậu, nâng cao khả năng chống chịu và giảm phát thải đến năm 2040, tương đương 6,8% GDP/năm.

Nhu cầu lớn, nhưng vốn chỉ được giải ngân khi dự án có hiệu quả, có khả năng trả nợ và kết quả giảm phát thải có thể kiểm chứng. Theo ông Bùi Minh Giáp, tín dụng và thị trường carbon chỉ bổ trợ hiệu quả khi ngân hàng đủ năng lực đánh giá hoạt động xanh, kế hoạch chuyển đổi và dòng tiền của từng dự án.

Một dự án có thể tạo giá trị thông qua tiết kiệm năng lượng, giảm chi phí mua hạn ngạch hoặc bán tín chỉ carbon. Với nguồn thu từ tín chỉ, ngân hàng cần xem xét khả năng được cấp, sản lượng thực tế, bên mua, giá bán, chi phí xác minh và thời điểm nhận tiền. Hợp đồng mua dài hạn giúp giảm rủi ro đầu ra, nhưng chưa bảo đảm doanh nghiệp tạo được và giao đủ tín chỉ.

“Không nên coi nhãn xanh thay thế cho thẩm định tín dụng," ông Bùi Minh Giáp chia sẻ. Ngân hàng vẫn cần đánh giá dòng tiền, khả năng trả nợ, tính khả thi của kế hoạch giảm phát thải và các kịch bản bất lợi như giá carbon giảm sâu hoặc thanh toán chậm.

Từ kinh nghiệm quốc tế, ông Bùi Minh Giáp đề xuất Việt Nam kết hợp hỗ trợ đầu tư với quản lý rủi ro. Trước hết, cần củng cố tiêu chí, dữ liệu và năng lực thẩm định, sau đó có thể thí điểm hỗ trợ nguồn vốn cho những khoản vay đủ điều kiện.

Ông cũng lưu ý tín dụng ngân hàng không thể tự đáp ứng toàn bộ nhu cầu vốn dài hạn. Cần kết hợp với trái phiếu xanh, trái phiếu tài trợ chuyển đổi, vốn cổ phần, tài chính hỗn hợp, bảo lãnh và cơ chế chia sẻ rủi ro.

Đối với thị trường carbon, hạ tầng giao dịch cần đi cùng nguồn cung tín chỉ chất lượng và thể chế rõ ràng. Quyền sở hữu, quyền bán, cách chia sẻ nguồn thu và trách nhiệm khi tranh chấp phải được xác định. Doanh nghiệp cần chuẩn bị kế hoạch chuyển đổi có mục tiêu, thời hạn, dữ liệu phát thải và phương án trả nợ, đồng thời tính toán thận trọng doanh thu carbon.

Đưa vốn đến cánh đồng trước khi tín chỉ hình thành

Từ góc nhìn ngân hàng thương mại, TS. Nguyễn Thị Thu Hà, Giám đốc Trường Đào tạo cán bộ kiêm Phó trưởng ban Chỉ đạo ESG Agribank, chỉ ra khoảng lệch thời gian trong tài chính carbon là doanh nghiệp cần vốn ngay từ lúc chuẩn bị, đầu tư, nhưng tín chỉ chỉ hình thành sau khi kết quả giảm phát thải được đo lường, xác minh. Doanh thu còn phụ thuộc vào giao dịch và thanh toán.

Một cánh đồng, diện tích rừng hay hệ thống xử lý chất thải có tiềm năng giảm phát thải chưa đủ để xác định ngay nguồn thu. Dự án phải đáp ứng phương pháp, duy trì dữ liệu, thực hiện đo lường, báo cáo và thẩm tra (MRV), hoàn tất thủ tục cấp tín chỉ và tìm được bên mua.

Theo bà Nguyễn Thị Thu Hà, có thể tiếp cận theo “hai tầng dòng tiền”: dòng tiền sản xuất, kinh doanh cốt lõi là nền tảng trả nợ; doanh thu carbon là phần bổ sung, được ghi nhận theo mức độ chắc chắn. Khi dự án mới có tiềm năng, thu nhập carbon chỉ nên nằm trong kịch bản bổ sung.

Cách tiếp cận này được minh họa qua chuỗi lúa phát thải thấp. Nông dân liên kết với hợp tác xã và doanh nghiệp thu mua, thống nhất quy trình canh tác, quản lý nước và ghi chép dữ liệu. Đơn vị kỹ thuật hỗ trợ MRV; ngân hàng xem xét vốn vụ mùa cho hộ sản xuất, vốn thiết bị cho hợp tác xã và vốn thu mua, chế biến cho doanh nghiệp.

TS. Nguyễn Thị Thu Hà, Giám đốc Trường Đào tạo cán bộ kiêm Phó trưởng ban Chỉ đạo ESG Agribank. Ảnh: Thu Trang/Mekong ASEAN

TS. Nguyễn Thị Thu Hà, Giám đốc Trường Đào tạo cán bộ kiêm Phó trưởng ban Chỉ đạo ESG Agribank. Ảnh: Thu Trang/Mekong ASEAN

Bà Nguyễn Thị Thu Hà cho biết đến tháng 8/2026, dư nợ của Agribank dành cho nông nghiệp, nông dân, nông thôn đạt hơn 1,34 triệu tỷ đồng, chiếm 64,7% tổng dư nợ. Trong Đề án phát triển bền vững một triệu héc-ta lúa chất lượng cao, phát thải thấp vùng Đồng bằng sông Cửu Long, ngân hàng triển khai chương trình cho vay liên kết sản xuất, chế biến và tiêu thụ quy mô tối thiểu 30.000 tỷ đồng.

Từ thực tiễn này, bà đề xuất tài trợ theo từng giai đoạn, kết nối đối tác kỹ thuật, quản lý dòng tiền và huy động nguồn vốn khí hậu. Đồng thời, cần giảm chi phí MRV cho hợp tác xã, doanh nghiệp nhỏ và làm rõ quyền hưởng lợi của các bên.

Hợp đồng phải xác định chi phí, quyền dữ liệu và cách phân chia doanh thu, để người sản xuất thực hiện chuyển đổi được hưởng lợi tương xứng. Đây là điều kiện để duy trì kết quả giảm phát thải, củng cố nguồn thu và giúp ngân hàng mở rộng tài trợ trên cơ sở kiểm soát được rủi ro.

Thu Trang

Nguồn Mekong Asean: https://mekongasean.vn/thi-truong-carbon-mo-them-loi-cho-dong-von-xanh-60619.html