Trùng tu nhà tưởng niệm thi nhân Đông Hồ - Mộng Tuyết
Nhà tưởng niệm thi sĩ Đông Hồ (1906 - 1969) và nữ sĩ Mộng Tuyết (1914 - 2007) vừa được chính quyền Hà Tiên trùng tu. Bên cạnh, khu Trí Đức học xá cũng được phục dựng. Phường Hà Tiên (tỉnh An Giang mới) chọn ngày Tết Nguyên tiêu Bính Ngọ nhân 120 năm ngày sinh Đông Hồ làm lễ khánh thành cụm công trình này cùng nhiều sinh hoạt tưởng niệm.
Nhà lưu niệm hai vợ chồng thi sĩ bên cạnh “Đông Hồ ấn nguyệt”, nhìn sang bên kia là núi Tô Châu, sau khi tu sửa vẫn giữ nguyên kiến trúc ban đầu. Nơi đây lưu giữ khoảng 1.800 cuốn sách, 937 tờ tạp chí, hàng trăm bức tranh, thư pháp. Những hiện vật này là đường dẫn ngược về quá khứ lưu dấu cuộc đời, sự nghiệp của cặp đôi Đông Hồ - Mộng Tuyết, là không gian xưa cũ của một thời văn thi đàn sôi động.
“Một thời đại trong thi ca”
Thăm vài gian trưng bày tài liệu về thân thế, sự nghiệp và những trước tác của Đông Hồ - Mộng Tuyết, du khách được trở về với phong vị xưa cũ của thi ca, của áo dài khăn đóng, nét thư pháp bay bổng mà khuôn vàng thước ngọc. Hiện vật lặng im dưới dấu thời gian mà như thoảng chút hương trầm lan tỏa đâu đây, vọng về giọng ngâm vừa thiết tha mà cũng chừng mực của tao nhân.
Bất giác tôi lại nhớ tiểu luận Một thời đại trong thi ca mở đầu tác phẩm bất hủ Thi nhân Việt Nam của Hoài Thanh - Hoài Chân. Một thời đại có thể xem là cuộc giằng xé chuyển mình sôi động nhất trong lịch sử thi ca Việt Nam. Sự giằng xé, xô ngã rồi gượng mình đứng dậy, thắng thế của cái mới mẻ trong cách biểu đạt tâm hồn, hay hòa nhịp vào nhau giữa thơ cũ và thơ mới để định hình một dòng chảy không thể cưỡng lại.

Trí Đức học xá vừa phục dựng. Ảnh: Duy Thông
Nguyễn Du, Bà Huyện Thanh Quan, Đoàn Thị Điểm, Tản Đà… vẫn cứ là những tượng đài thi ca. “Rồi một ngày kia ông Phan Khôi hăng hái như một tướng quân dõng dạc bước ra trận”- bắt đầu một cuộc cách mạng về thi ca. Tiếp đến Xuân Diệu, Thế Lữ, Anh Thơ… bao nhiêu người trẻ nữa bước ra… Nhưng với Đông Hồ, Hoài Thanh viết: “Cái nàng thơ xưa này thực là rắc rối… Có người say theo thì nàng chẳng mặn mà chi, như hai thầy trò Đông Hồ, Mộng Tuyết. Đến nỗi một sáng kia hai thầy trò chán nản, bỏ đi tìm duyên mới”. Và rồi, “Mặc dầu, sự tình cờ đã một đôi lần đưa người ra khỏi ngoài khuôn sáo. Trong tập Thơ Đông Hồ, giữa bao nhiêu câu văn trơn tru mà tầm thường, trống rỗng, đột nhiên ta gặp đôi lời dường như trong ấy ẩn náu một linh hồn… Đông Hồ đã đi xa trường thơ Nam Phong nhiều lắm…”.
Thi nhân Việt Nam là cuốn tiểu luận phê bình thơ mới, giai đoạn 1932 - 1941 với sự có mặt của 46 thi nhân đương thời, trong đó có Đông Hồ - Mộng Tuyết của Hà Tiên.
“Hồn Đại Việt, giọng Hàn Thuyên”
Đông Hồ, tên thật là Lâm Tấn Phác, quê ở làng Mỹ Đức (Hà Tiên). Mồ côi từ nhỏ, được người bác ruột là Lâm Hữu Lân nuôi dạy. Rành rẽ Hán - Nôm văn chương quốc âm vào thời buổi tiếng Pháp độc tôn trong trường học. Năm 16 tuổi, ông thôi học ở trường, về nhà học quốc ngữ. Từ đó ông bắt đầu viết báo, làm thơ và trở thành cây bút nổi trội trên các tạp chí Nam Phong, Trung Bắc Tân văn, Đông Pháp thời báo, Kỳ Lân báo. Như nhiều tài liệu ghi lại, tạp chí Nam Phong có ảnh hưởng nhiều nhất đến tư tưởng, tình cảm của ông.
Nhắc đến Đông Hồ, ngoài thơ ca người ta thường nói đến chí nguyện suốt đời của ông về việc phổ biến quốc ngữ. Trong bối cảnh Nam kỳ dạy và học bằng tiếng Pháp, Việt ngữ chỉ là môn phụ, thì ông mở lớp tại nhà dạy toàn tiếng Việt. Ở độ tuổi 20, từ năm 1926 - 1934, Đông Hồ mở Trí Đức học xá ngay tại nhà mình, cổ động khuyến khích học trò và bạn bè tin tưởng vào tương lai quốc ngữ.
Với vai trò người sáng lập và điều hành, trong gần 10 năm, Trí Đức học xá rèn quốc ngữ cho nhiều lớp thanh niên không chỉ ở Hà Tiên mà còn tổ chức các khóa hàm thụ cho học trò khắp các tỉnh Nam kỳ.
Năm 1935 khi Nam Phong tạp chí đóng cửa, ông chủ trương tuần báo Sống tại Sài Gòn. Tờ báo Sống với chủ bút Đông Hồ rất chú trọng chính tả, nhất là những chữ có dấu hỏi, ngã. Sau khi ra được 30 số, tờ báo phải đóng cửa vì lý do tài chính.
Từ năm 1936 ông về sống tại Hà Tiên đến 1945 thì trở lại Sài Gòn. Năm 1953, ông cho xuất bản đặc san Nhân Loại, mở nhà xuất bản Bốn Phương và nhà sách Yiễm Yiễm Thư Trang, hoạt động tới giữa năm 1964 thì ngưng.

Đông Hồ thi sĩ. Ảnh tư liệu
Những năm cuối đời dù sức khỏe không tốt ông vẫn nhận lời làm giảng viên, phụ trách môn văn học miền Nam tại Đại học Văn khoa Sài Gòn. Ngoài việc giảng dạy ông cũng đăng đàn diễn thuyết, làm thơ, viết báo cho các tạp chí ở Sài Gòn thời đó. Trong bài Khóc bác Đông Hồ, học giả Nguyễn Hiến Lê viết: “Bác có gì ân hận đâu, suốt đời chỉ yêu đất Việt và tiếng Việt thì bác đã đi khắp giang san Việt, đã phụng sự tiếng Việt, trứ tác và dạy học non nửa thế kỷ, từ tuổi chưa đầy hai mươi cho tới nay. Còn có cuộc đời nào hơn vậy nữa? Bác nổi danh sớm hơn ai hết, giữ được danh lâu hơn ai hết và cũng sẽ lưu danh không kém ai hết. Sau này nhắc tới Hà Tiên người ta phải nhớ tới Chiêu Anh Các và tới bác”.
Trong Hồi ký Quách Tấn (nhà xuất bản Hội Nhà Văn 2003) có phần về Đông Hồ và Mộng Tuyết, nhà thơ Quách Tấn kể về kỷ niệm “gặp” Đông Hồ trên Nam Phong tạp chí, khi còn đi học. Quách Tấn đọc được bài Thăm đảo Phú Quốc của Đông Hồ, đem lòng cảm phục và yêu mến. Nhất là đoạn mô tả cảnh Tây hành quyết anh hùng Nguyễn Trung Trực. Ông viết: “Tôi đã thuộc lòng những câu: Quân đao phủ hôm ấy là một người Cao Miên vì người An Nam không ai nỡ lĩnh việc ấy cả. Đến giờ hành quyết, cụ đứng vén tóc gáy nghểnh cao cổ bảo tên Cao Miên chém rõ mạnh để lưỡi dao khỏi dục dặc. Lưỡi dao thoảng qua, đầu cụ rơi, mà cụ vẫn đưa tay hứng lấy được đặt lại như cũ rồi thân mới phục xuống. Cái anh khí ấy khiến ai là người không kinh hoàng mà cảm phục…”.
Cái chết của thi nhân
Sinh viên Lê Trung Hoa (1) viết: “Sống với thầy Đông Hồ là sống trong một không khí thơ. Chất thơ nơi thi sĩ thể hiện qua nếp sống nghệ sĩ hào hoa, những lần tặng thơ, tặng sách. Tôi kính thầy Đông Hồ vì ngoài cái “nguồn xuân bất tận, suối thơ dài” (thơ Đông Hồ); ngoài cái vẻ tiên phong đạo cốt, tôi còn tìm thấy nơi thầy một người từ phụ luôn luôn bảo bọc tuổi trẻ bằng tình thương. Thầy là một nhà thơ mà hình như những câu chuyện của thầy chỉ liên quan đến thơ!”.
Thi sĩ Đông Hồ ngã xuống khi đang bình thơ ở giảng đường Văn Khoa Sài Gòn vào ngày 25.3.1969. Sinh viên Trần Đình Lập (2) kể về Giờ học cuối cùng với thầy Đông Hồ. Buổi sáng hôm đó cúp điện, lớp học nóng bức và chật chội, Đông Hồ giảng về luân lý dù trong giờ văn chương. Ông hỏi học trò: “Các con có biết tại sao thầy giảng về luân lý trong lúc này không? Đây tập Đối diện, chính vì cơ hội này thầy nói đến luân lý. Tại sao anh sinh viên trong ban biên tập của Đối diện đến xin bài thầy không nhân danh tình thầy trò lại nhắc đến tên một vài vị giáo sư có bài viết cho Đối diện. Vì thế dù không nói ra thầy nhất định không cho bài”. Rồi ông kể tiếp một trường hợp tương tự, hàng xóm của ông qua nhà mượn mấy cái ghế lại nhân danh ông tổng, ông huyện nào đó. Tình láng giềng đủ để mượn mấy chiếc ghế mà...
11 giờ trưa, điện vẫn chưa có mà chuông reo đổi giờ. Nhưng người thầy vẫn tiếp tục vì không muốn bỏ phí một phút nào. Ông bắt đầu đề tài về Hai Bà Trưng: “Từ xưa người ta đã vịnh về Hai Bà rất nhiều nhưng tất cả đều là các ông. Các ông luôn bỏ quên mất tâm sự riêng của Hai Bà. Các ông luôn gán cho Hai Bà một nam nhi tính, chỉ nói toàn chiến công oanh liệt, chỉ nói toàn là gươm đao nợ nước thù nhà. Cho nên khi đọc tập thơ Tiếng vọng sông Ngân của Ngân Giang nữ sĩ trong đó có bài Vịnh Hai Bà thầy thích thú lắm. Nữ sĩ diễn tả thật hay và lần đầu tiên nói lên một cái mới: tâm sự của Hai Bà, tâm sự của người quả phụ. Tâm sự của vành khăn tang còn vấn trên đầu trong niềm cô đơn miên man…”.
Rồi thầy Đông Hồ cất tiếng: Ải Bắc quân thù kinh vó ngựa/Giáp vàng khăn trở lạnh đầu voi/Chàng ơi điện ngọc bơ vơ quá/Chênh chếch trăng tà bóng lẻ loi.
“Chàng ơi điện ngọc bơ vơ quá” - Đông Hồ ngâm đi ngâm lại rồi bỗng nhiên như đứng bất động mà miệng vẫn ngâm nhỏ dần… Sinh viên bắt đầu hoang mang, một vài sinh viên chạy lên đỡ…
Mối tình Đông Hồ - Mộng Tuyết
Hôm khánh thành khu tưởng niệm Đông Hồ, trong số khách được mời về dự có nhà giáo Lâm Hữu Tài năm nay đã ngoài 80. Là cựu sinh viên Hán Việt - Đại học Văn khoa Sài Gòn (vào trường năm 1964), ông Tài nhớ lại niềm vinh dự ngay trong lần đầu tiên được tiếp xúc với thầy Đông Hồ. Đọc danh sách sinh viên, gặp tên Lâm Hữu Tài, thầy dừng lại tìm người và hỏi quê quán. Đông Hồ nhận cùng họ Lâm Hữu Lân - người bác, phụ dưỡng Đông Hồ từ nhỏ. Mối lương duyên khởi nguồn từ đó, sinh viên Lâm Hữu Tài được thầy nhận là “môn sinh đồng tông”. Ông Tài thường được giao nhiệm vụ lo việc rót trà nước, đốt trầm hương cho những buổi ngâm thơ tại nhà Đông Hồ - Mộng Tuyết (đường Lam Sơn, quận Bình Thạnh cũ).

Nữ sĩ Mộng Tuyết (những năm cuối đời) và nhà giáo Lâm Hữu Tài trước Đông Hồ thi nhân kỷ niệm đường. Ảnh tư liệu
Nhà giáo Lâm Hữu Tài cho biết mối thâm giao giữa ông và gia đình thầy Đông Hồ để lại rất nhiều kỷ niệm với ông. Nữ sĩ Mộng Tuyết coi ông như con cháu trong nhà, nhớ cả sinh nhật của con ông, luôn chu đáo với mọi người. Sinh năm 1914 ở Hà Tiên, Mộng Tuyết tên thật là Thái Thị Úc, là học trò của Đông Hồ tại Trí Đức học xá. Bà viết văn, làm thơ dưới sự hướng dẫn của Đông Hồ. Sự nghiệp văn chương của bà được đánh một dấu mốc quan trọng vào năm 1939 khi đoạt giải văn chương của Tự Lực Văn đoàn với tập thơ Phấn hương rừng.
Mộng Tuyết là người vợ thứ ba của thi sĩ Đông Hồ. Người vợ đầu là Linh Phượng qua đời khi còn rất trẻ, để lại niềm thương tiếc mà Đông Hồ thể hiện qua Linh Phượng lệ ký, nổi tiếng thành giai thoại văn chương thời đó (Đông Hồ khóc vợ, Tương Phố khóc chồng). Người vợ thứ hai là Nhàn Liên, chị thứ năm trong gia đình Mộng Tuyết, cũng mất khi còn trẻ. Mộng Tuyết, cô em út, thứ bảy trong gia đình chăm sóc hai đứa cháu còn nhỏ, rồi nên duyên vợ chồng với Đông Hồ.
Sau 1975, Trí Đức học xá được chính quyền mới tiếp quản và biến thành kho thóc của công ty lương thực. Sau gần 20 năm gõ cửa nhiều nơi nữ sĩ mới nhận lại được một nửa căn nhà. Năm 1995 bà bán căn nhà ở Sài Gòn về xây “Đông Hồ thi nhân kỷ niệm đường” trên nền đất cũ và sống ở đó cùng một người cháu gái. Nữ sĩ Mộng Tuyết qua đời năm 2007, cô cháu gái Nguyễn Thị Thanh Hoa tiếp tục sinh sống và trông nom ngôi nhà. Đến 2023, chính quyền tỉnh Kiên Giang (cũ) công nhận địa điểm này là di tích lịch sử văn hóa, cấp căn nhà khác cho cô Thanh Hoa. Công trình nhà tưởng niệm được trùng tu và Nhà nước cũng cho phục dựng Trí Đức học xá bên cạnh.
Tác phẩm của Đông Hồ
Thơ Đông Hồ (Văn học Tùng Thư, Nam Ký thư quán, Hà Nội xuất bản, 1932): sáng tác khoảng 1922 - 1932.
Lời hoa (Trí Đức học xá, Hà Tiên, 1934): các bài Việt văn của học sinh Trí Đức học xá đã nhuận sắc.
Linh Phượng (Nam Ký thư quán, Hà Nội, 1934): tập lệ ký khóc vợ, vừa thơ vừa văn xuôi, đăng ở Nam Phong tập XXII, số 128.
Cô gái Xuân (Vị Giang văn khố Nam Định, 1935): thơ sáng tác khoảng 1932 - 1935.
Những lỗi thường lầm trong sự học Quốc văn (Trí Đức học xá, 1936): soạn chung với Trúc Hà.
Hà Tiên thập cảnh (Bốn Phương, 1960): in chung với Đường vào Hà Tiên của Mộng Tuyết.
Trinh trắng (Bốn Phương, 1961): thi tuyển
Truyện Song tinh (Bốn Phương, 1962): sao lục, khảo cứu truyện Song Tinh Bất Dạ.
Chi lan đào lý (1965): Tùy bút.
Năm ba điều nghĩ về Truyện Kiều (1965): thuyết trình nhân dịp kỷ niệm 200 năm sinh Nguyễn Du .
Bội lan hành (1969).
Úc Viên thi thoại (1969).
Đăng đàn (1969).
Dòng Cổ Nguyệt (1969).
Văn học miền Nam: văn học Hà Tiên (1970): tập hợp những bài giảng ở Đại học Văn khoa Sài Gòn.
Thủ bút nhà thơ Đông Hồ
Tác phẩm của Mộng Tuyết
Phấn hương rừng (1939), giải “Khen tặng” của Tự Lực Văn đoàn.
Đường vào Hà Tiên (tùy bút, 1960).
Nàng Ái Cơ trong chậu úp (tiểu thuyết lịch sử, 1961).
Truyện cổ Đông Tây (1969).
Dưới mái trăng non (thơ, 1969).
Núi mộng gương hồ (hồi ký ba tập, NXB Trẻ, 1998).
Ngoài ra, bà còn dịch thơ và viết khảo cứu văn học.
Duy Thông
_________
(1) Những ngày cuối cùng của thi sĩ Đông Hồ, tạp chí Bách Khoa 296, ngày 1.5.1969.
(2) Giờ học cuối cùng với thầy Đông Hồ, tạp chí Văn 145, ngày 1.1.1970.











