Trường liên tục 'suất nhân lực', doanh nghiệp vẫn than thiếu người: Nghẽn ở đâu?

Mỗi năm, các trường tiếp tục tuyển sinh, đào tạo và cấp bằng nhưng doanh nghiệp vẫn phản ánh thiếu nhân lực đáp ứng yêu cầu. Tại Diễn đàn hợp tác nhà trường – doanh nghiệp năm 2026 ở TPHCM, lãnh đạo Bộ GD&ĐT đặt câu hỏi: Vướng mắc nằm ở khâu dự báo nhu cầu, quá trình đào tạo hay cách đánh giá người học trước khi tốt nghiệp?

Diễn đàn do Bộ GD&ĐT tổ chức ngày 28/9 tại Trường Đại học Văn Lang, với chủ đề kết nối đặt hàng đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho các ngành công nghệ mới nổi. Thay vì chỉ bàn chuyện doanh nghiệp tiếp nhận sinh viên sau khi ra trường, các ý kiến tại đây tập trung vào cách để đơn vị sử dụng lao động tham gia sớm hơn: xác định nhu cầu nhân lực, góp ý chương trình, tạo môi trường thực hành và đánh giá năng lực làm việc.

Có bằng rồi, người học làm được gì?

Phát biểu tại diễn đàn, Thứ trưởng Bộ GD&ĐT Lê Quân cho rằng chất lượng đầu ra phải được nhìn từ khả năng làm việc thực tế của người tốt nghiệp. Theo ông, tình trạng có bằng cấp nhưng không làm được việc là điều đáng lo ngại, nhất là ở những lĩnh vực đòi hỏi kỹ năng nghề nghiệp chặt chẽ.

Thứ trưởng Bộ GD&ĐT Lê Quân phát biểu tại diễn đàn.

Thứ trưởng Bộ GD&ĐT Lê Quân phát biểu tại diễn đàn.

Một thay đổi được Thứ trưởng đề cập là quy chế đào tạo mới trong giáo dục nghề nghiệp. Theo đó, người học phải trải qua thực tập, thực hành và sát hạch kỹ năng trước khi tốt nghiệp. Việc đánh giá dựa trên bài thi thực hành; người sử dụng lao động chiếm tối thiểu 50% thành viên hội đồng đánh giá kỹ năng tốt nghiệp. Quá trình tổ chức sát hạch có sự giám sát của cơ quan quản lý nhà nước và được số hóa để lưu trữ, kiểm soát chất lượng.

Cách đánh giá này đưa doanh nghiệp vào khâu xác nhận năng lực người học, thay vì chỉ tiếp nhận họ sau khi nhà trường đã cấp bằng. Với đào tạo nghề, ông Lê Quân cho rằng doanh nghiệp còn có thể đưa quy trình công nghệ, thiết bị và môi trường sản xuất vào quá trình học. Nhà trường và doanh nghiệp có thể hợp tác đầu tư để mở khoa hoặc trung tâm đào tạo, kể cả đặt địa điểm đào tạo tại doanh nghiệp.

Ở bậc đại học, Thứ trưởng nêu ba nhóm năng lực cần chú trọng: ngoại ngữ, năng lực số và năng lực thực hành. Theo ông, ngoại ngữ là điều kiện quan trọng để người học tiếp cận chương trình chất lượng; còn năng lực số không thể chỉ đặt ra với sinh viên ngành công nghệ. Một sinh viên khoa học xã hội và nhân văn cũng cần có khả năng tham gia những công việc, dự án có ứng dụng công nghệ ở mức phù hợp.

Ông đồng thời đặt vấn đề về cách đo năng lực thực hành. Nếu kết quả thực tập chủ yếu được thể hiện bằng một bản báo cáo hoặc luận văn, nhà trường khó chỉ ra sinh viên đã làm được việc gì và năng lực của người này khác người kia ở đâu. Khi chuẩn đầu ra phản ánh được khả năng làm việc, tấm bằng mới tạo thêm niềm tin cho đơn vị tuyển dụng.

Từ góc nhìn đó, hợp tác trường – doanh nghiệp không nên chỉ được đo bằng số biên bản ký kết hay số vị trí thực tập. Câu hỏi quan trọng hơn là doanh nghiệp đã tham gia đến đâu trong quá trình đào tạo, và người học được kiểm tra kỹ năng sát với công việc đến mức nào.

Thiếu dự báo nhu cầu, thiếu cả “bài toán thật”

Ông Nguyễn Tiến Thảo, Vụ trưởng Vụ Giáo dục Đại học, nêu một nghịch lý: các trường hằng năm vẫn tuyển sinh, tổ chức đào tạo, nhưng doanh nghiệp vẫn thiếu người và tiếp tục có ý kiến về chất lượng nhân lực. Theo ông, các bên cần xác định rõ điểm nghẽn để tháo gỡ, thay vì dừng ở nhận định chung rằng đào tạo chưa sát nhu cầu.

Doanh nghiệp chia sẻ tại diễn đàn.

Doanh nghiệp chia sẻ tại diễn đàn.

Điểm nghẽn đầu tiên là thông tin về cung – cầu. Doanh nghiệp cần nhân lực ở ngành, nghề nào, với kỹ năng gì? Nhà trường tìm nhu cầu đó ở đâu để xác định quy mô tuyển sinh và cập nhật chương trình? Công tác dự báo sẽ do cơ quan nào thực hiện, kết nối ra sao giữa bộ, ngành, địa phương, trường và doanh nghiệp? Những câu hỏi này, theo ông Thảo, cần được giải quyết đồng thời với việc rà soát ngành đào tạo và chuẩn đầu ra.

Bên cạnh ngoại ngữ, năng lực số, chương trình đào tạo còn phải tính đến phòng thí nghiệm, điều kiện thực hành và cơ hội cho sinh viên làm việc trong môi trường doanh nghiệp. Yêu cầu này càng rõ khi Bộ GD&ĐT đang triển khai các đề án đào tạo nhân lực chất lượng cao trong những lĩnh vực như STEM, năng lượng hạt nhân, vi mạch – bán dẫn và công nghệ thông tin. Với các ngành thay đổi nhanh, khoảng cách giữa nội dung được dạy và công việc thực tế có thể xuất hiện ngay trong quá trình sinh viên còn học.

PGS.TS Trần Thị Mỹ Diệu, Hiệu trưởng Trường ĐH Văn Lang, chỉ ra điều nhà trường cần nhận được từ doanh nghiệp là những “bài toán thật”. Theo bà, các trường đã có hoạt động hợp tác, thực tập và hệ thống mô phỏng cho sinh viên. Tuy nhiên, mô phỏng vẫn khác môi trường làm việc, nơi người học phải xử lý vấn đề thực tế cùng những con người và điều kiện không thể dự liệu hết trong lớp học. Bà dẫn ví dụ về 100 doanh nghiệp tiếp nhận 2.000 sinh viên của trường tham gia các đề án, tạo cơ hội để sinh viên học từ yêu cầu công việc cụ thể.

Toàn cảnh diễn đàn quy tụ lãnh đạo các trường đại học, doanh nghiệp.

Toàn cảnh diễn đàn quy tụ lãnh đạo các trường đại học, doanh nghiệp.

Bà Diệu cho rằng, “Bài toán thật” cũng cần cho giảng viên. Nhà trường cần biết doanh nghiệp đang gặp vấn đề gì, có dữ liệu và công nghệ nào để đề tài giảng dạy, nghiên cứu hướng tới việc giải quyết nhu cầu thực tế. Bà đề xuất Bộ GD&ĐT xây dựng một nền tảng kết nối, nơi doanh nghiệp có thể đưa ra vấn đề cần giải quyết còn các trường, giảng viên và sinh viên thuộc nhiều ngành khác nhau cùng tiếp cận, tìm lời giải.

Các ý kiến tại diễn đàn cho thấy lời giải cho tình trạng “trường vẫn đào tạo, doanh nghiệp vẫn thiếu người” nằm ở nhiều khâu liên tiếp, như: dự báo đúng nhu cầu, đưa vấn đề thực tế vào chương trình và đánh giá được năng lực làm việc trước khi cấp bằng...

Thứ trưởng Lê Quân đề nghị doanh nghiệp nêu vướng mắc, nhu cầu cụ thể. Vụ Giáo dục Đại học sẽ tổng hợp để Bộ GD&ĐT có văn bản trả lời từng doanh nghiệp đưa ra ý kiến.

Nguyễn Dũng

Nguồn Tiền Phong: https://tienphong.vn/truong-lien-tuc-suat-nhan-luc-doanh-nghiep-van-than-thieu-nguoi-nghen-o-dau-post1880240.tpo