Truy xuất nguồn gốc, mở đường cho hàng Việt ra thế giới
Khi các thị trường ngày càng yêu cầu cao về minh bạch thông tin, truy xuất nguồn gốc đang trở thành công cụ giúp doanh nghiệp chứng minh chất lượng, kiểm soát chuỗi sản xuất và đáp ứng các yêu cầu khắt khe đối với hàng hóa xuất khẩu.
Đáp ứng yêu cầu của thị trường
Trước đây, Công ty CP Phân bón Bình Điền từng áp dụng nhiều biện pháp truyền thống để chống hàng giả, nhưng hiệu quả vẫn có giới hạn khi công nghệ sao chép bao bì ngày càng tinh vi. Những năm gần đây, doanh nghiệp bắt đầu đẩy mạnh ứng dụng truy xuất nguồn gốc bằng mã QR và hệ thống dữ liệu điện tử.
Theo ông Phan Văn Tâm, Phó Tổng Giám đốc Công ty CP Phân bón Bình Điền, trước đây bà con nông dân chưa sử dụng điện thoại thông minh nên việc ứng dụng mã QR chưa thuận lợi. Tuy nhiên, hiện nay điều kiện đã khác, doanh nghiệp phải cập nhật công nghệ để bảo vệ sản phẩm và hỗ trợ người tiêu dùng kiểm tra nguồn gốc dễ dàng hơn.
Còn đối với các doanh nghiệp thuỷ sản, truy xuất nguồn gốc đang trở thành yêu cầu bắt buộc. Quy định mới về chứng nhận thủy sản xuất khẩu vào Hoa Kỳ đang chuyển trọng tâm từ một thủ tục chứng nhận ở khâu cuối sang yêu cầu kiểm soát, truy xuất nguồn gốc xuyên suốt chuỗi sản xuất. Điều này đòi hỏi doanh nghiệp cũng phải thiết lập hệ thống truy xuất nguồn gốc để theo dõi các nguồn nguyên liệu và từng lô nguyên liệu từ khi tiếp nhận, bảo quản, đưa vào chế biến đến khi xuất khẩu.

Người tiêu dùng có thể quét mã QR để tra cứu thông tin và truy xuất nguồn gốc sản phẩm. Ảnh: TTXVN
Ông Trần Thanh Hải, Phó Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương) cho rằng, truy xuất nguồn gốc không chỉ là một xu hướng mà là một yêu cầu tất yếu để đảm bảo chất lượng và an toàn trong chuỗi cung ứng toàn cầu.
Đối với Việt Nam, truy xuất nguồn gốc không chỉ là một giải pháp tình thế mà còn là lợi thế cạnh tranh chiến lược, một "hộ chiếu vàng" giúp hàng hóa Việt vượt qua những rào cản kỹ thuật ngày càng khắt khe tại các thị trường khó tính bậc nhất thế giới như Liên minh châu Âu (EU), Nhật Bản, Mỹ...
Có thể khẳng định, truy xuất nguồn gốc là một khoản đầu tư dài hạn mang lại lợi ích rõ ràng, giúp doanh nghiệp chứng minh chất lượng sản phẩm, tạo lợi thế cạnh tranh khi xuất khẩu sang các thị trường khó tính và bảo vệ thương hiệu trước nạn hàng giả, hàng nhái. Không chỉ gây thất thu cho nền kinh tế, tình trạng làm nhái nông sản còn trực tiếp đe dọa uy tín của những thương hiệu Việt Nam đã gây dựng nhiều năm.
Chuẩn hóa dữ liệu, mở rộng kết nối
Ông Nguyễn Quang Tin, Phó Vụ trưởng Vụ Khoa học Công nghệ cho biết, ngày 30/6/2026, Bộ Nông nghiệp và Môi trường công bố và đưa Hệ thống truy xuất nguồn gốc vào hoạt động. Từ thời điểm hệ thống được công bố đến nay, có hơn 309.000 sản phẩm của 211 nông hộ, 25 doanh nghiệp tại 17 tỉnh, thành phố đăng ký truy xuất nguồn gốc. Trong số này, 428 sản phẩm của 32 nông hộ và 11 doanh nghiệp tại 9 tỉnh, thành phố đã thực hiện truy xuất sản phẩm nông sản.
Lũy kế từ tháng 1/2026, thời điểm Bộ trưởng Nông nghiệp và Môi trường ban hành Quyết định số 25 về xây dựng Hệ thống truy xuất nguồn gốc, đến nay tổng số lượng đã đạt khoảng 814.000 sản phẩm của 3.000 nông hộ, 207 doanh nghiệp tại 24/34 tỉnh, thành phố đăng ký truy xuất nguồn gốc với Bộ Nông nghiệp và Môi trường.
Trong đó, 158.000 sản phẩm của 48 nông hộ và 20 doanh nghiệp tại 14 tỉnh, thành phố đã thực hiện truy xuất nguồn gốc.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang tiếp tục chuẩn hóa dữ liệu, hoàn thiện các tiêu chuẩn kết nối, mở rộng phạm vi ứng dụng và phối hợp với địa phương, doanh nghiệp để kết nối dữ liệu hiện có của các địa phương, doanh nghiệp với hệ thống của Bộ.
Về hạ tầng kỹ thuật, an toàn thông tin và chuẩn kết nối, Bộ đã bố trí 40 máy chủ phục vụ triển khai, thử nghiệm hệ thống trước khi công bố.
Hai nền tảng truy xuất nguồn gốc được xây dựng, gồm hệ thống truy xuất nguồn gốc của Bộ Nông nghiệp và Môi trường và nền tảng phục vụ người dân, doanh nghiệp đăng ký, tra cứu, truy xuất nguồn gốc sản phẩm. Các nền tảng này đã được đánh giá an toàn, đáp ứng yêu cầu trước khi đưa vào sử dụng.
Bộ cũng đang tiếp tục triển khai ứng dụng trên điện thoại thông minh, phục vụ tra cứu, sử dụng hệ thống và hướng tới nhập liệu trực tiếp trên thiết bị di động.
Về quy trình kết nối, Cục Chuyển đổi số đã xây dựng và công bố phiên bản 1.0 ngày 20/6. Bộ đang phối hợp xây dựng các phiên bản tiếp theo, phù hợp với yêu cầu kết nối của các địa phương và doanh nghiệp.
Ông Nguyễn Quang Tin cho biết thêm, cùng với việc xây dựng hệ thống, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang thúc đẩy kết nối với các nền tảng, cổng thông tin quốc gia. Bộ đã làm việc với Bộ Công an và Bộ Khoa học và Công nghệ để triển khai kết nối kỹ thuật. Bộ Công an cũng đang xây dựng hệ thống về danh sách truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa, trong đó có nhóm sản phẩm nông, lâm, thủy sản. Việc kết nối các nền tảng nhằm bảo đảm khả năng liên thông, chia sẻ dữ liệu, sẵn sàng đáp ứng yêu cầu khi các hệ thống quốc gia được triển khai đồng bộ.
Về công tác điều hành, ngày 4/9/2026, Văn phòng Chính phủ ban hành Thông báo số 8998, thông báo ý kiến của Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng, giao Bộ Nông nghiệp và Môi trường chủ động hướng dẫn các bộ, cơ quan, địa phương triển khai đồng bộ việc chia sẻ dữ liệu phục vụ truy xuất nguồn gốc nông sản; đồng thời kết nối với hệ thống của Bộ, hoàn thành trong tháng 9/2026.
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, đây là nhiệm vụ có yêu cầu cao, thời gian triển khai ngắn, trong khi còn nhiều vướng mắc. Vì vậy, Bộ xác định tiếp tục tập trung hoàn thiện cơ sở pháp lý, hệ thống kỹ thuật và hướng dẫn địa phương, doanh nghiệp tham gia kết nối.
Một trong những nhiệm vụ trọng tâm là xây dựng thông tư làm cơ sở kết nối chung đối với các nhóm sản phẩm thuộc lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và các nhóm sản phẩm có tính đặc thù.
Quá trình này cần đồng bộ với quy định về định danh, xác thực và truy xuất nguồn gốc do Bộ Công an xây dựng, qua đó tạo cơ sở pháp lý thống nhất cho việc kết nối và chia sẻ dữ liệu.
Bộ cũng tiếp tục hoàn thiện Hệ thống truy xuất nguồn gốc, chuẩn hóa dữ liệu, quy trình kết nối và quy trình nghiệp vụ với các cục chuyên ngành. Đối với từng nhóm sản phẩm, cần xây dựng quy trình cụ thể để bảo đảm người dân, doanh nghiệp có thể triển khai, đồng thời đáp ứng yêu cầu truy xuất xuôi và truy xuất ngược. Cùng với đó, Bộ sẽ tiếp tục hoàn thiện, ban hành các phiên bản tiếp theo của hệ thống, từ phiên bản 1.0 đến 2.0 và các phiên bản nâng cấp sau đó.
Một nhiệm vụ quan trọng khác là hướng dẫn các địa phương, doanh nghiệp kết nối với hệ thống. Bộ sẽ phối hợp với các cơ quan chuyên môn tại địa phương để từng bước kết nối dữ liệu của địa phương, doanh nghiệp và các hệ thống hiện có vào hệ thống truy xuất nguồn gốc của Bộ.
Việc hình thành và vận hành thống nhất hệ thống truy xuất nguồn gốc sẽ kết nối dữ liệu giữa cơ quan quản lý, địa phương và doanh nghiệp, từng bước nâng cao khả năng kiểm soát thông tin sản phẩm, phục vụ quản lý nhà nước và đáp ứng yêu cầu truy xuất nguồn gốc trong sản xuất, kinh doanh nông sản.
