Truyền thông về quyền con người: Những chuyển động từ phát huy 'thế trận lòng dân'
Những năm gần đây, truyền thông về quyền con người ở Việt Nam đã có những chuyển động đáng chú ý theo hướng đổi mới tư duy và phương thức tiếp cận.

Thay vì chỉ nhấn mạnh các cam kết quốc tế hay thành tựu ở tầm vĩ mô, nhiều nội dung truyền thông đã gắn quyền con người với những vấn đề cụ thể như an sinh xã hội, giảm nghèo, chuyển đổi số, tiếp cận dịch vụ công, quyền của phụ nữ, trẻ em, người khuyết tật và các nhóm dễ bị tổn thương.
Qua đó, quyền con người dần được “bình thường hóa” trong nhận thức xã hội, được nhìn nhận như một phần của chất lượng sống và phát triển bền vững. Cách tiếp cận này giúp truyền thông quyền con người phát huy rõ hơn vai trò kết nối giữa Nhà nước và Nhân dân, góp phần củng cố niềm tin xã hội, tạo sự đồng thuận trong thực hiện chính sách, qua đó phát huy “thế trận lòng dân” - yếu tố có ý nghĩa nền tảng trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với nhiều thời cơ và thách thức đan xen.
Chiến lược truyền thông ở tầm quốc gia
Một dấu mốc quan trọng trong tiến trình đổi mới truyền thông quyền con người là việc Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1079/QĐ-TTg ngày 14/9/2022, phê duyệt Đề án Truyền thông về quyền con người ở Việt Nam giai đoạn 2023-2028 (Đề án 1079). Đây là lần đầu tiên công tác truyền thông về quyền con người được đặt trong một khuôn khổ chiến lược thống nhất, có mục tiêu, nhiệm vụ và lộ trình rõ ràng.
Mục tiêu của Đề án được xác định là tạo chuyển biến về nhận thức, hiểu biết của toàn xã hội về quyền con người; cung cấp thông tin đầy đủ, khách quan cho người dân trong nước, đồng bào Việt Nam ở nước ngoài và bạn bè quốc tế; đồng thời góp phần nâng cao uy tín, hình ảnh của Việt Nam trong lĩnh vực quyền con người ở phạm vi trong nước, khu vực và thế giới.
Các nhiệm vụ trọng tâm bao gồm: Hoàn thiện cơ chế phát ngôn và cung cấp thông tin; tổ chức các hoạt động triển lãm, sự kiện truyền thông trong nước và quốc tế; số hóa dữ liệu truyền thông; tăng cường sản phẩm truyền thông bằng tiếng dân tộc và ngoại ngữ; chủ động đấu tranh, giảm thiểu thông tin sai lệch, xuyên tạc về quyền con người trên không gian mạng.
Sau 3 năm triển khai (2023-2025) cho thấy, Đề án 1079 đã tạo nền tảng pháp lý và cơ chế chỉ đạo tương đối đồng bộ, giúp các bộ, ngành và địa phương triển khai truyền thông quyền con người bài bản, chuyên nghiệp hơn. Công tác phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước với hệ thống báo chí, phát thanh, truyền hình có chuyển biến rõ rệt; thông tin được cung cấp kịp thời hơn, có trọng tâm, trọng điểm, bám sát thực tiễn đời sống Nhân dân.
Về số lượng, cả nước đã xuất bản 300 đầu sách, trong đó sách điện tử, sách bằng tiếng nước ngoài chiếm từ 15% đến 20% (đạt 30% so với mục tiêu Đề án); sản xuất, phát sóng 189.550 sản phẩm báo chí các thể loại; sản xuất, lan tỏa 462.259 sản phẩm số/tin/ bài/post để đăng phát, lan tỏa trên môi trường mạng với lượt tiếp cận khoảng 461 triệu lượt, trong đó có khoảng 40% lượt tiếp cận từ nước ngoài thông qua nền tảng quảng bá hình ảnh Việt Nam - vietnam.vn.
Về nội dung, truyền thông không chỉ dừng ở phản ánh thành tựu, mà từng bước chuyển sang phân tích, giải thích chính sách dưới góc độ quyền và lợi ích của người dân. Cán bộ, công chức, viên chức và người lao động có sự chuyển biến rõ rệt về nhận thức, hiểu rõ hơn mối liên hệ giữa lĩnh vực chuyên môn phụ trách với các quyền con người cụ thể. Đây là bước tiến quan trọng, góp phần đưa quyền con người từ phạm trù chính sách vĩ mô trở thành nội dung gắn với quản trị quốc gia và đời sống xã hội.
Có được kết quả này một phần nhờ công tác bồi dưỡng, tập huấn được quan tâm, triển khai tích cực trong suốt thời gian qua. Trên phạm vi toàn quốc, đã thực hiện 963 cuộc tập huấn lớp bồi dưỡng trực tiếp với sự tham gia của 37.790 lượt cán bộ, công chức, phóng viên, biên tập viên các cơ quan báo chí, truyền thông, xuất bản Trung ương và địa phương và 4.000 lượt học viên tham dự các bồi dưỡng, tập huấn trực tuyến trên nền tảng đào tạo trực tuyến mở đại trà (MOOCs) về các chủ đề: Báo chí và quyền con người, cơ chế rà soát định kì phổ quát của Hội đồng Nhân quyền LHQ (UPR), quyền văn hóa...

Phổ biến cách tiếp cận và tăng cường tiếp cận thông tin
Một trong những điểm nổi bật của truyền thông quyền con người giai đoạn vừa qua là việc phổ biến ngày càng rộng rãi cách tiếp cận quyền trong các sản phẩm truyền thông.
Cơ chế phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí được duy trì khá nền nếp ở Trung ương và từng bước đi vào thực chất ở địa phương. Việc chủ động cung cấp thông tin, thay vì chỉ phản hồi khi có vấn đề phát sinh, đã giúp hình thành dòng chảy thông tin chính thống, kịp thời và có trách nhiệm hơn. Đây là tiền đề quan trọng để nâng cao năng lực giải trình của các cơ quan nhà nước, đồng thời tăng khả năng phản ứng trước các diễn biến dư luận, nhất là trên không gian mạng.
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cùng Văn phòng cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo Nhân quyền duy trì cơ chế Hội nghị cung cấp thông tin cho báo chí định kỳ hằng tháng về công tác nhân quyền và thông tin đối ngoại từ năm 2022.
Đến nay đã tổ chức được 30 Hội nghị, 2.000 lượt phóng viên báo chí dự; 70 lượt cơ quan báo cáo chuyên đề tại Hà Nội, tổ chức 20 đoàn phóng viên báo chí Trung ương đi tác nghiệp thực tế tại địa phương.
3 cuộc tập huấn với sự tham gia của đại biểu đại diện các sở, ngành thành viên Ban Chỉ đạo Nhân quyền của 34 tỉnh, thành phố được tổ chức để chuyển giao mô hình Hội nghị cung cấp thông tin cho báo chí về công tác nhân quyền.
Việc đưa phóng viên đi thực tế, viết bài tại cơ sở được các bộ, ngành, địa phương triển khai trong 3 năm đầu thực hiện Đề án với khoảng 27.043 lượt phóng viên trong nước. Ở bình diện đối ngoại, truyền thông quyền con người ngày càng đóng vai trò như một “cầu nối” giữa trong nước và quốc tế. Việc tăng cường sản phẩm truyền thông bằng tiếng nước ngoài, gắn với các cơ chế đối thoại nhân quyền, thực hiện khuyến nghị quốc tế và tham gia các diễn đàn đa phương cho thấy nỗ lực chủ động hơn của Việt Nam trong việc “kể câu chuyện của mình” bằng ngôn ngữ dễ tiếp cận với cộng đồng quốc tế.
Truyền thông, theo đó, không chỉ là công cụ phản bác thông tin sai lệch, mà còn góp phần định hình khung diễn ngôn về quyền con người gắn với điều kiện lịch sử, văn hóa và trình độ phát triển của Việt Nam. Đơn cử chuỗi sự kiện Triển lãm thành tựu đảm bảo quyền con người của Việt Nam ở trong và ngoài nước dưới tên gọi “Việt Nam hạnh phúc - Happy Vietnam” từ năm 2023 đến nay đã được trang bị cho 100 cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài, tổ chức triển lãm tại cả 3 thành phố trụ sở của Liên hợp quốc (New York, Geneve và Bangkok), thu hút sự quan tâm, tham dự và đóng góp của cộng đồng ngoại giao, các chuyên gia quốc tế, báo giới và người dân sở tại trong lan tỏa các thông điệp truyền thông về quyền con người của Việt Nam.

Khai mở tiềm năng
Sự khởi sắc của truyền thông quyền con người trong những năm gần đây gắn liền với cách làm hiện đại, đặc biệt là việc tận dụng truyền thông xã hội, tổ chức các giải thưởng chuyên đề và xây dựng chuỗi sự kiện có tính lan tỏa. Quyền con người dần bước ra khỏi khuôn khổ các báo cáo, hội thảo chuyên môn để hiện diện sinh động hơn qua những câu chuyện đời sống, hình ảnh trực quan và trải nghiệm văn hóa.
Việc tổ chức các giải thưởng truyền thông chuyên đề, tiêu biểu như Giải thưởng truyền thông về quyền con người ở Việt Nam năm 2025 mang tên gọi “Việt Nam hạnh phúc”, đã tạo không gian sáng tạo rộng mở, thu hút sự tham gia của 30.000 lượt nhà báo, nghệ sĩ, người làm nội dung độc lập và đông đảo công chúng.
Thông qua các tác phẩm báo chí, ảnh, video, quyền con người được thể hiện cụ thể, gần gũi, gắn với những câu chuyện người thật, việc thật, thay vì tồn tại như một khái niệm pháp lý trừu tượng. Đây là cách làm phù hợp với xu thế truyền thông hiện đại, góp phần thay đổi nhận thức xã hội về quyền con người.
Song song với đó, truyền thông xã hội đã trở thành không gian then chốt để lan tỏa thông điệp. Các nền tảng như Facebook, TikTok, YouTube, Threads cho phép tiếp cận nhanh chóng giới trẻ, kiều bào và cộng đồng quốc tế, với hình thức thể hiện ngắn gọn, trực quan, giàu tính kể chuyện.
Những sự kiện truyền thông - văn hóa như Ngày hội Việt Nam hạnh phúc - Vietnam Happy Fest do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chủ trì tổ chức tại Hà Nội từ ngày 5-7/12/2025 đã tạo điểm nhấn dư luận, duy trì dòng thông tin tích cực về quyền con người trong không gian công cộng.
Sự kiện gồm chuỗi 13 hoạt động trải dài trên quãng đường 2km trên phố đi bộ quanh Hồ Gươm trong vòng 3 ngày đã thu hút gần 200 nghìn lượt khách tham quan, trải nghiệm; 80.000 phần quà được gửi đến người dân và du khách; 40.000 điều ước được treo lên Cây hạnh phúc; 5000 bức thư được gửi đến tại Hòm thư "Gửi hạnh phúc tới ngày mai"; Lễ khai mạc Ngày hội Việt Nam hạnh phúc - Vietnam Happy Fest 2025 cùng Đám cưới 80 cặp đôi "Ngày chung đôi - Yêu là hạnh phúc" thu hút gần 2 triệu lượt xem trên các nền tảng truyền thông.
Những con số này cho thấy sức lan tỏa đáng kể của các hoạt động truyền thông quyền con người khi được tổ chức theo hướng hiện đại, kết hợp hài hòa giữa không gian vật lý và không gian số, giữa truyền thông chính thống và truyền thông công dân.

Vẫn còn những thách thức
Bên cạnh những kết quả đạt được, truyền thông quyền con người ở Việt Nam vẫn đối mặt với nhiều thách thức mang tính cấu trúc, công nghệ và nhận thức.
Một là, mâu thuẫn giữa yêu cầu định hướng thông tin và nhu cầu đa chiều, phản biện của truyền thông hiện đại. Trong môi trường mạng xã hội, thông tin cảm tính, cực đoan hoặc bị chính trị hóa dễ lan truyền nhanh, đặt ra yêu cầu cao đối với năng lực phản ứng và giải thích chính sách.
Hai là, sự khác biệt về chuẩn mực và cách tiếp cận quyền con người giữa Việt Nam và một bộ phận dư luận quốc tế. Sự khác biệt này, nếu không được truyền thông khéo léo, dễ khiến truyền thông đối ngoại rơi vào thế phòng thủ, phản bác, thiếu chiều sâu đối thoại.
Ba là, thách thức về năng lực chuyên môn của đội ngũ cán bộ làm công tác nhân quyền các cấp nói chung, cán bộ làm truyền thông về quyền con người nói riêng. Đây là lĩnh vực đòi hỏi kiến thức liên ngành sâu rộng, kết hợp giữa luật học, chính sách công, truyền thông và quan hệ quốc tế.
Trong thực tế, không ít sản phẩm truyền thông còn nặng về khẩu hiệu, thiếu dữ liệu so sánh, thiếu dẫn chứng quốc tế hoặc chưa khai thác hiệu quả các đánh giá khách quan từ bên ngoài. Điều này làm giảm sức thuyết phục của thông điệp, đặc biệt khi tiếp cận đối tượng công chúng quốc tế vốn quen với các chuẩn mực học thuật và báo chí điều tra nghiêm ngặt.
Cuối cùng là vấn đề niềm tin xã hội. Truyền thông về quyền con người chỉ thực sự hiệu quả khi công chúng cảm nhận được tính chân thực, nhất quán và sẵn sàng đối thoại. Truyền thông không chỉ cần “nhiều hơn”, mà cần “tốt hơn”, có chiều sâu và khả năng thuyết phục lâu dài.
Có thể khẳng định, truyền thông quyền con người ở Việt Nam dù chưa tạo ra những đột phá mang tính bước ngoặt, nhưng những chuyển động tích cực trong tư duy và cách làm đã cho thấy vai trò “bắc nhịp cầu” của truyền thông giữa chính sách và đời sống, giữa Nhà nước và Nhân dân, giữa trong nước và quốc tế. Đó là nền tảng quan trọng để quyền con người được nhìn nhận như một bộ phận hữu cơ của phát triển bền vững, góp phần củng cố đồng thuận xã hội và phát huy “thế trận lòng dân” trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.












