TS Nguyễn Đức Kiên: Cần mở đường cho không gian phát triển năng lượng biển

Trong bối cảnh nguồn dầu khí truyền thống suy giảm, nhu cầu năng lượng ngày càng tăng, việc hoàn thiện Luật Dầu khí là yêu cầu cấp thiết. Trao đổi với phóng viên Tạp chí Năng lượng Mới, TS Nguyễn Đức Kiên - nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội cho rằng, Luật Dầu khí cần có tầm nhìn dài hạn, trở thành nền tảng thể chế cho phát triển năng lượng biển, tăng cường tự chủ năng lượng và tạo động lực phát triển bền vững cho Việt Nam.

PV: Thưa ông, trong bối cảnh cạnh tranh năng lượng ngày càng gắn với cạnh tranh chiến lược giữa các quốc gia, ông đánh giá như thế nào về ý nghĩa của việc sửa đổi Luật Dầu khí đối với an ninh năng lượng và sự phát triển dài hạn của Việt Nam?

TS Nguyễn Đức Kiên: Tôi cho rằng việc sửa đổi Luật Dầu khí cần được nhìn nhận không chỉ là sửa đổi một đạo luật chuyên ngành, mà còn là bước đi quan trọng trong chiến lược bảo đảm an ninh năng lượng và nâng cao năng lực tự chủ của nền kinh tế quốc gia.

TS Nguyễn Đức Kiên - nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội

TS Nguyễn Đức Kiên - nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội

Hiện nay, năng lượng đã trở thành một yếu tố của cạnh tranh chiến lược giữa các quốc gia. Những biến động địa chính trị và thị trường năng lượng toàn cầu thời gian qua cho thấy, quốc gia nào không chủ động được nguồn cung năng lượng sẽ đối mặt với nhiều rủi ro đối với tăng trưởng kinh tế và an ninh quốc gia. Vì vậy, bảo đảm an ninh năng lượng không chỉ là đáp ứng nhu cầu trước mắt mà còn là bảo đảm nền tảng phát triển lâu dài của đất nước.

Đối với Việt Nam, dầu khí vẫn sẽ giữ vai trò quan trọng trong nhiều thập niên tới, đặc biệt là khí tự nhiên trong quá trình chuyển dịch năng lượng. Tuy nhiên, các mỏ dầu khí truyền thống đang suy giảm sản lượng, trong khi các dự án mới chủ yếu nằm ở vùng nước sâu, xa bờ với chi phí đầu tư lớn và rủi ro cao. Điều này đòi hỏi phải có một khuôn khổ pháp lý đủ sức hấp dẫn để thu hút đầu tư, ứng dụng công nghệ hiện đại và thúc đẩy hoạt động tìm kiếm, thăm dò, khai thác.

Theo tôi, ý nghĩa lớn nhất của việc sửa đổi Luật Dầu khí là tạo môi trường pháp lý ổn định, minh bạch và có tính cạnh tranh quốc tế nhằm gia tăng trữ lượng, duy trì sản lượng khai thác và bảo đảm nguồn cung năng lượng cho nền kinh tế. Đây cũng là giải pháp quan trọng để giảm dần sự phụ thuộc vào nguồn năng lượng nhập khẩu trong tương lai.

Việc hoàn thiện Luật Dầu khí cũng là bước cụ thể hóa các định hướng lớn được nêu trong Nghị quyết 70-NQ/TW về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, trong đó nhấn mạnh yêu cầu gia tăng trữ lượng dầu khí, phát triển các mỏ khí gắn với chuỗi khí - điện và chủ động nghiên cứu, phát triển các nguồn năng lượng mới trong tương lai.

PV: Như ông vừa nói, các dự án dầu khí mới hiện chủ yếu nằm ở vùng nước sâu, xa bờ với chi phí cao và rủi ro lớn. Vậy theo ông, Luật Dầu khí cần được sửa đổi theo hướng nào để tăng sức hấp dẫn đầu tư và khuyến khích hoạt động tìm kiếm, thăm dò, khai thác?

TS Nguyễn Đức Kiên: Theo tôi, điều quan trọng nhất là Luật Dầu khí phải phản ánh đúng đặc thù của ngành dầu khí hiện nay. Với các dự án mới, nếu vẫn áp dụng cơ chế như đối với các mỏ truyền thống thì rất khó thu hút nhà đầu tư.

Do đó, luật cần tạo ra môi trường đầu tư đủ sức cạnh tranh so với các quốc gia trong khu vực. Trước hết, cần có cơ chế linh hoạt hơn về tài chính, thuế, phân chia sản phẩm và chính sách ưu đãi đối với những lô dầu khí có điều kiện địa chất phức tạp hoặc rủi ro cao. Nhà đầu tư chỉ chấp nhận bỏ vốn khi lợi ích và rủi ro được phân bổ hợp lý.

Biển Việt Nam có nhiều nguồn tài nguyên năng lượng có giá trị chiến lược như khí hydrate, điện gió ngoài khơi và các dạng năng lượng biển khác (ảnh minh họa)

Biển Việt Nam có nhiều nguồn tài nguyên năng lượng có giá trị chiến lược như khí hydrate, điện gió ngoài khơi và các dạng năng lượng biển khác (ảnh minh họa)

Bên cạnh đó, cần tiếp tục đơn giản hóa thủ tục hành chính, rút ngắn thời gian phê duyệt dự án, bảo đảm tính ổn định và nhất quán của chính sách trong suốt vòng đời dự án. Đối với ngành dầu khí, sự ổn định của thể chế có ý nghĩa đặc biệt quan trọng bởi một dự án có thể kéo dài hàng chục năm với số vốn đầu tư lên tới hàng tỷ USD.

Tôi cũng cho rằng cần tăng cường phân cấp, phân quyền đi đôi với cơ chế kiểm tra, giám sát hiệu quả để các quyết định đầu tư được thực hiện nhanh hơn, giảm chi phí cơ hội cho doanh nghiệp và nhà đầu tư.

Quan trọng hơn, Luật Dầu khí cần được xây dựng với tầm nhìn dài hạn, không chỉ phục vụ mục tiêu gia tăng trữ lượng và sản lượng khai thác trước mắt mà còn tạo điều kiện phát triển chuỗi giá trị năng lượng biển, gắn kết giữa hoạt động dầu khí với các ngành công nghiệp năng lượng ngoài khơi mới.

Chỉ khi tạo được một khuôn khổ pháp lý ổn định, minh bạch và đủ sức cạnh tranh quốc tế, Việt Nam mới có thể thu hút nguồn lực để tiếp tục khai thác hiệu quả tiềm năng dầu khí và bảo đảm an ninh năng lượng trong dài hạn.

PV: Nhiều ý kiến cho rằng Luật Dầu khí không nên chỉ giới hạn trong khai thác dầu khí truyền thống mà cần đặt trong không gian phát triển năng lượng biển, bao gồm khí hydrate, điện gió ngoài khơi và các nguồn năng lượng mới. Quan điểm của ông về vấn đề này ra sao?

TS Nguyễn Đức Kiên: Tôi cho rằng đây là cách tiếp cận phù hợp với xu thế phát triển năng lượng hiện nay. Tuy nhiên, cần xác định rõ Luật Dầu khí trước hết vẫn là đạo luật điều chỉnh hoạt động dầu khí. Điều quan trọng là luật phải được xây dựng với tầm nhìn mở, có tính kết nối với chiến lược phát triển năng lượng biển và các ngành công nghiệp năng lượng mới trong tương lai.

Thực tế cho thấy không gian biển của Việt Nam không chỉ có dầu khí mà còn chứa đựng nhiều nguồn tài nguyên năng lượng có giá trị chiến lược như khí hydrate, điện gió ngoài khơi và các dạng năng lượng biển khác. Đây đều là những nguồn lực quan trọng phục vụ mục tiêu bảo đảm an ninh năng lượng và phát triển bền vững trong dài hạn.

Người lao động Petrovietnam tại trạm nạp xe bồn LNG Thị Vải

Người lao động Petrovietnam tại trạm nạp xe bồn LNG Thị Vải

Đáng chú ý, ngành dầu khí hiện đang sở hữu nhiều lợi thế mà các lĩnh vực năng lượng biển mới có thể kế thừa. Từ khảo sát địa chất, điều tra địa vật lý, xây dựng công trình ngoài khơi đến vận hành thiết bị, logistics và dịch vụ kỹ thuật biển, Việt Nam đã tích lũy được kinh nghiệm và nguồn nhân lực chất lượng cao qua nhiều thập niên phát triển ngành dầu khí. Đây là nền tảng quan trọng để phát triển các ngành công nghiệp năng lượng biển trong tương lai.

Theo tôi, vấn đề không phải là mở rộng Luật Dầu khí để điều chỉnh tất cả các lĩnh vực năng lượng mới, mà là bảo đảm sự đồng bộ giữa Luật Dầu khí với các luật liên quan, tạo ra một khuôn khổ thể chế thống nhất cho phát triển kinh tế biển và năng lượng biển.

Đồng thời, Nhà nước cần sớm có cơ chế nghiên cứu, đánh giá tiềm năng các nguồn năng lượng mới như khí hydrate để chủ động chuẩn bị về công nghệ, nhân lực và hành lang pháp lý.

Việt Nam cần chuyển từ tư duy khai thác từng loại tài nguyên riêng lẻ sang tư duy quản trị tổng thể không gian biển. Khi đó, dầu khí, điện gió ngoài khơi hay các nguồn năng lượng mới sẽ không phát triển tách biệt mà bổ trợ cho nhau, cùng hướng tới mục tiêu bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia và phát huy hiệu quả các nguồn lực từ biển.

PV: Hoạt động dầu khí trên biển vừa góp phần bảo đảm an ninh năng lượng, vừa gắn với việc thực thi quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia trên biển. Vậy, Luật Dầu khí cần được hoàn thiện như thế nào để phát huy đồng thời cả hai vai trò chiến lược này, thưa ông?

TS Nguyễn Đức Kiên: Tôi cho rằng đây là một trong những đặc thù rất riêng của ngành dầu khí Việt Nam. Ở nhiều quốc gia, hoạt động dầu khí chủ yếu được nhìn nhận dưới góc độ kinh tế, nhưng đối với Việt Nam, hoạt động dầu khí trên biển còn gắn chặt với việc thực thi quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia và khẳng định sự hiện diện hợp pháp của Việt Nam trên các vùng biển thuộc quyền quản lý theo luật pháp quốc tế.

Vì vậy, khi hoàn thiện Luật Dầu khí cần tiếp cận theo hướng vừa bảo đảm hiệu quả kinh tế, vừa phục vụ các lợi ích chiến lược lâu dài của quốc gia.

Trước hết, luật phải tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động điều tra cơ bản, tìm kiếm, thăm dò và khai thác dầu khí tại các khu vực tiềm năng, đặc biệt là những vùng biển xa bờ. Việc duy trì các hoạt động kinh tế hợp pháp, liên tục trên biển cũng góp phần củng cố sự hiện diện và thực thi các quyền, lợi ích hợp pháp của Việt Nam.

Đồng thời, cần coi các hoạt động dầu khí trên biển là một bộ phận của chiến lược phát triển kinh tế biển, qua đó tạo sự gắn kết giữa mục tiêu phát triển kinh tế với bảo vệ lợi ích quốc gia trên biển.

Trong đó, Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam (Petrovietnam) tiếp tục giữ vai trò nòng cốt trong triển khai các hoạt động dầu khí trên biển, góp phần bảo đảm nguồn cung năng lượng và tăng cường hiện diện kinh tế của Việt Nam trên biển.

PV: Như ông vừa đề cập, Petrovietnam đang giữ vai trò nòng cốt trong bảo đảm an ninh năng lượng và phát triển kinh tế biển. Vậy theo ông, Luật Dầu khí cần được sửa đổi, bổ sung theo hướng nào để Petrovietnam có đủ cơ chế và nguồn lực thực hiện hiệu quả vai trò này?

TS Nguyễn Đức Kiên: Trước hết cần nhận thức rằng Petrovietnam không chỉ là doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực dầu khí mà còn là tập đoàn công nghiệp - năng lượng quốc gia, được giao thực hiện nhiều nhiệm vụ chiến lược liên quan đến an ninh năng lượng, phát triển kinh tế biển và bảo đảm lợi ích quốc gia trên biển.

Chính vì vậy, Petrovietnam cần được trao những cơ chế tương xứng với vai trò và trách nhiệm được giao. Điều quan trọng nhất là tăng tính chủ động trong hoạt động đầu tư, tìm kiếm, thăm dò và khai thác dầu khí.

Đối với ngành dầu khí, cơ hội đầu tư thường xuất hiện trong thời gian ngắn, trong khi các quyết định kỹ thuật và thương mại đòi hỏi tính kịp thời rất cao. Nếu quy trình phê duyệt kéo dài sẽ làm mất cơ hội và làm giảm sức cạnh tranh của doanh nghiệp.

Bên cạnh đó, cần có cơ chế tài chính linh hoạt hơn cho Petrovietnam, đặc biệt trong việc tái đầu tư nguồn lực vào các dự án tìm kiếm, thăm dò các mỏ mới. Hoạt động thăm dò luôn tiềm ẩn rủi ro lớn nhưng lại quyết định nguồn tài nguyên và nguồn cung năng lượng cho tương lai.

Dầu khí vẫn sẽ giữ vai trò quan trọng trong nhiều thập niên tới (ảnh: khai thác dầu khí tại mỏ Bạch Hổ)

Dầu khí vẫn sẽ giữ vai trò quan trọng trong nhiều thập niên tới (ảnh: khai thác dầu khí tại mỏ Bạch Hổ)

Một nội dung quan trọng khác là tạo điều kiện để Petrovietnam phát huy vai trò dẫn dắt trong quá trình phát triển các lĩnh vực năng lượng mới. Với kinh nghiệm, hạ tầng kỹ thuật, nguồn nhân lực và năng lực quản lý các dự án ngoài khơi, Petrovietnam có nhiều lợi thế để tham gia sâu hơn vào các lĩnh vực như điện gió ngoài khơi, thu giữ, sử dụng và lưu trữ carbon (CCUS), khí thiên nhiên hóa lỏng (LNG), hydrogen và các chuỗi năng lượng tích hợp trong tương lai.

Theo tôi, việc sửa đổi và hoàn thiện Luật Dầu khí cần đặt trong nội hàm của Nghị quyết số 57-NQ/TW và 79-NQ/TW của Bộ Chính trị. Luật cần tạo điều kiện hình thành các doanh nghiệp Việt lọt vào top 500 doanh nghiệp lớn của thế giới mà nòng cốt là Petrovietnam. Để qua việc thực hiện luật, Petrovietnam đủ năng lực để tự mình phát triển, thu hút và dẫn dắt các dự án chiến lược quốc gia không chỉ trong lĩnh vực dầu khí mà cả trong lĩnh vực năng lượng mới và công nghiệp năng lượng.

Qua đó, góp phần củng cố an ninh năng lượng thông qua khả năng tự chủ về kinh tế, tài chính và khoa học - công nghệ, hướng tới mục tiêu Việt Nam trở thành quốc gia phát triển có thu nhập bình quân cao vào năm 2045.

PV: Xin cảm ơn ông!

Mạnh Tưởng

Nguồn PetroTimes: https://petrovietnam.petrotimes.vn/ts-nguyen-duc-kien-can-mo-duong-cho-khong-gian-phat-trien-nang-luong-bien-743097.html