TS. Nguyễn Thị Thanh Bình: Cải cách phải được đo bằng tiến độ thực tế của dự án

Hiệu quả cải cách cần được đo bằng thời gian xử lý thủ tục, chi phí tuân thủ và khả năng đưa dự án vào triển khai thực tế, theo đại biểu Quốc hội Nguyễn Thị Thanh Bình.

Trao đổi với TheLEADER nhân Ngày Doanh nhân Việt Nam, TS. Nguyễn Thị Thanh Bình, đại biểu Quốc hội khóa XVI, Phó chủ tịch Hiệp hội Năng lượng Việt Nam, Phó chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp tỉnh Hưng Yên nhìn nhận, trong bối cảnh hiện tại với mục tiêu phát triển cao của đất nước, chính sách cần nhất quán, trách nhiệm thực thi phải rõ ràng để doanh nghiệp chủ động đầu tư và triển khai dự án.

Đo cải cách bằng kết quả thực thi

Việt Nam đang đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính và cắt giảm điều kiện kinh doanh. Theo bà, đâu là những điểm nghẽn lớn nhất hiện nay? Cần dựa vào những tiêu chí nào để đánh giá hiệu quả cải cách một cách thực chất?

TS. Nguyễn Thị Thanh Bình: Thứ nhất, về những điểm nghẽn lớn nhất, tôi cho rằng ba khâu nêu trên có quan hệ chặt chẽ với nhau. Quy định thiếu rõ ràng tạo ra nhiều cách hiểu; các quy định chồng chéo khiến cơ quan khó xác định căn cứ xử lý; sự thiếu phối hợp trong thực thi kéo dài thời gian giải quyết. Doanh nghiệp phải chịu chi phí cộng dồn của cả quá trình này.

TS. Nguyễn Thị Thanh Bình, đại biểu Quốc hội khóa XVI. Ảnh: NVCC

TS. Nguyễn Thị Thanh Bình, đại biểu Quốc hội khóa XVI. Ảnh: NVCC

Từ thực tiễn đầu tư, tôi đặc biệt quan tâm đến khoảng cách giữa một quy định đã được ban hành và một dự án có thể triển khai. Doanh nghiệp có thể đáp ứng yêu cầu của từng cơ quan nhưng vẫn chưa hoàn tất thủ tục vì các yêu cầu chưa thống nhất với nhau. Mỗi tháng chờ đợi làm tăng chi phí vốn và có thể khiến phương án đầu tư mất tính khả thi.

Vì vậy, tôi đề nghị các cơ quan vừa rà soát tính đồng bộ của pháp luật, vừa làm rõ thẩm quyền và trách nhiệm quyết định. Nhà nước cần bảo đảm cùng một vấn đề được áp dụng nhất quán, để doanh nghiệp có thể dự báo và chủ động lập kế hoạch.

Thứ hai, liên quan đến tiêu chí đánh giá hiệu quả cải cách, tôi đề xuất lấy kết quả doanh nghiệp thực sự nhận được làm thước đo: tổng thời gian hoàn tất thủ tục, tổng chi phí tuân thủ và khả năng dự báo tiến độ. Các cơ quan cần theo dõi cả thời gian chờ giữa các khâu, số lần bổ sung hồ sơ và tỷ lệ giải quyết đúng hạn.

Cơ quan quản lý cũng cần kiểm tra liệu dự án đủ điều kiện đã có thể triển khai hay chưa. Nếu một thủ tục được rút ngắn nhưng dự án vẫn tắc ở bước tiếp theo, doanh nghiệp chưa hưởng lợi trọn vẹn. Tôi mong cải cách giúp doanh nghiệp chuyển nguồn lực từ chờ đợi và xử lý thủ tục sang đầu tư, đổi mới và tạo giá trị cho nền kinh tế.

Một dự án đầu tư quy mô lớn thường liên quan đến nhiều thủ tục về quy hoạch, đất đai, xây dựng và môi trường. Theo bà, cần thay đổi gì trong cơ chế phối hợp giữa các cơ quan quản lý, phân định trách nhiệm và thời hạn xử lý hồ sơ để hạn chế tình trạng dự án phải chờ đợi kéo dài?

TS. Nguyễn Thị Thanh Bình: Về cơ chế phối hợp liên ngành, tôi đề xuất cơ quan có thẩm quyền giao một đầu mối điều phối toàn bộ quá trình xử lý thủ tục của dự án. Các cơ quan cần thống nhất quy trình ngay từ đầu, xác định nội dung có thể làm song song và dùng chung dữ liệu. Doanh nghiệp không thể tự giải quyết sự thiếu thống nhất giữa các cơ quan mà mình không có quyền điều hành.

TS. Nguyễn Thị Thanh Bình cho rằng, khi nhiều dự án cùng vướng ở một khâu, các cơ quan cần xác định nguyên nhân chung và sửa đúng quy định hoặc cách thực thi đang gây ách tắc. Ảnh: NVCC

TS. Nguyễn Thị Thanh Bình cho rằng, khi nhiều dự án cùng vướng ở một khâu, các cơ quan cần xác định nguyên nhân chung và sửa đúng quy định hoặc cách thực thi đang gây ách tắc. Ảnh: NVCC

Về phân định trách nhiệm, đầu mối điều phối phải theo dõi tiến độ, tổng hợp yêu cầu bổ sung và đưa bất đồng lên cấp có thẩm quyền giải quyết. Từng cơ quan chuyên môn vẫn chịu trách nhiệm về quyết định thuộc thẩm quyền của mình. Doanh nghiệp cần biết rõ ai xử lý, ai quyết định và ai giải quyết khi hồ sơ bị ách tắc.

Về thời hạn xử lý, các cơ quan cần cam kết một tiến độ chung, bao gồm cả thời gian lấy ý kiến và xử lý bất đồng. Khi hồ sơ quá hạn, cơ quan phụ trách phải giải trình nguyên nhân và xác định thời điểm hoàn thành. Tôi cho rằng Nhà nước cần đánh giá hiệu quả phối hợp bằng tiến độ toàn bộ dự án; từng cơ quan hoàn thành phần việc của mình vẫn chưa đủ nếu doanh nghiệp tiếp tục phải chờ.

Với những dự án hạ tầng và năng lượng cần nguồn vốn lớn, thời gian thu hồi vốn dài, Nhà nước cần hoàn thiện những cơ chế nào về phân chia rủi ro, hợp đồng và bảo đảm tính ổn định của chính sách để khuyến khích doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư dài hạn, đồng thời bảo đảm hiệu quả sử dụng nguồn lực?

TS. Nguyễn Thị Thanh Bình: Về phân chia rủi ro, tôi đề xuất giao rủi ro cho bên có khả năng kiểm soát tốt nhất. Doanh nghiệp chịu trách nhiệm về năng lực tài chính, công nghệ, thi công và vận hành. Nhà nước cần làm rõ cơ chế xử lý rủi ro do thay đổi chính sách hoặc chậm thực hiện nghĩa vụ của cơ quan công quyền. Các bên phải biết trước trách nhiệm và giới hạn chia sẻ rủi ro để tính toán hiệu quả đầu tư.

Về hợp đồng, các bên cần quy định rõ nghĩa vụ thanh toán, điều kiện điều chỉnh và cách giải quyết tranh chấp để ngân hàng có thể đánh giá dòng tiền và khả năng trả nợ. Trong ngành năng lượng, các đơn vị liên quan phải gắn tiến độ nguồn điện với lưới điện và cơ chế tiêu thụ điện. Nhà đầu tư khó bảo đảm hiệu quả nếu nhà máy hoàn thành nhưng chưa thể giải tỏa công suất.

Về tính ổn định của chính sách, tôi cho rằng muốn thu hút vốn dài hạn, Nhà nước phải tạo được khả năng dự báo. Khi điều chỉnh chính sách, Nhà nước cần tham vấn, có lộ trình và cơ chế chuyển tiếp phù hợp cho các quyết định đầu tư hợp pháp. Sự rõ ràng này giúp giảm chi phí vốn và thu hút nhà đầu tư có năng lực. Chúng ta cần hướng dòng vốn vào những dự án tạo ra hạ tầng tốt, nâng năng suất và đóng góp bền vững cho nền kinh tế.

Khơi thông nguồn lực, bảo đảm kỷ cương pháp luật

Ở góc độ đại biểu Quốc hội, theo bà, làm thế nào để chuyển những vướng mắc của doanh nghiệp thành giải pháp chính sách có tính hệ thống? Với các dự án ách tắc do vướng mắc pháp lý, cần tuân thủ những nguyên tắc nào để khơi thông nguồn lực và bảo đảm kỷ cương pháp luật?

TS. Nguyễn Thị Thanh Bình: Thứ nhất, tôi xem phản ánh của doanh nghiệp là nguồn thông tin quan trọng để đánh giá chất lượng chính sách. Khi nhiều dự án cùng vướng ở một khâu, các cơ quan cần xác định nguyên nhân chung và sửa đúng quy định hoặc cách thực thi đang gây ách tắc.

Tôi đề xuất các hiệp hội tổng hợp vướng mắc theo nhóm, phối hợp với chuyên gia và cơ quan quản lý để làm rõ căn cứ pháp lý, giải pháp và thẩm quyền xử lý. Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội và đại biểu Quốc hội cần chú trọng giám sát hiệu quả thực thi chính sách, việc khắc phục những bất cập của pháp luật và tác động đối với môi trường đầu tư, kinh doanh. Kết quả giám sát phải góp phần hoàn thiện thể chế, khơi thông nguồn lực và thúc đẩy phát triển kinh tế.

Thứ hai, về nguyên tắc tháo gỡ các dự án ách tắc, tôi cho rằng cơ quan có thẩm quyền phải phân loại nguyên nhân, xác định trách nhiệm từng bên và công khai điều kiện xử lý. Đồng thời, Nhà nước cần áp dụng cơ chế chung cho các trường hợp tương tự, bảo đảm đúng thẩm quyền và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các bên.

Bên cạnh đó, cơ quan chức năng phải xử lý sai phạm theo pháp luật; việc xem xét cho dự án tiếp tục phải có căn cứ pháp lý và đáp ứng điều kiện khắc phục. Tôi mong mỗi đợt tháo gỡ vừa khơi thông nguồn lực, vừa giúp hoàn thiện thể chế để ngăn vướng mắc tái diễn. Mọi nhà đầu tư cần được tiếp cận giải pháp một cách công bằng.

Nhân Ngày Doanh nhân Việt Nam 13/10, nếu lựa chọn những cải cách có tác động trực tiếp nhất đến quyết định đầu tư của doanh nghiệp trong giai đoạn tới, bà sẽ đề xuất những vấn đề nào? Những thay đổi cụ thể nào sẽ cho thấy cải cách đã thực sự đi vào thực tiễn?

TS. Nguyễn Thị Thanh Bình: Tôi chọn hai ưu tiên cải cách.

Thứ nhất, bảo đảm tính nhất quán và khả năng dự báo của chính sách. Thứ hai, làm rõ trách nhiệm của cơ quan thực thi đối với thời hạn và kết quả xử lý.

Đại biểu quốc hội Nguyễn Thị Thanh Bình. Ảnh: NVCC

Đại biểu quốc hội Nguyễn Thị Thanh Bình. Ảnh: NVCC

Theo đó, các cơ quan cần tập trung xử lý tình trạng chồng chéo giữa các quy định về đầu tư, quy hoạch, đất đai, xây dựng và môi trường, đi kèm hướng dẫn thống nhất và quy định chuyển tiếp rõ ràng. Đồng thời, cơ quan có thẩm quyền cần giao đầu mối điều phối, công khai tiến độ và xử lý kịp thời hồ sơ quá hạn. Doanh nghiệp cần biết mình được làm gì và khi nào có thể bắt đầu.

Doanh nghiệp sẽ cảm nhận cải cách khi họ ít phải đi lại, ít bổ sung hồ sơ, giảm chi phí chờ đợi và triển khai dự án đúng kế hoạch. Các cơ quan cần công bố mức cải thiện so với trước cải cách, theo từng nhóm thủ tục và địa phương. Doanh nghiệp cần thấy cam kết rút ngắn thời gian được thực hiện bằng kết quả cụ thể.

Nhân Ngày Doanh nhân Việt Nam, tôi tin cộng đồng doanh nhân Việt Nam luôn sẵn sàng đồng hành với công cuộc cải cách, đổi mới và phát triển đất nước. Chúng tôi mong muốn có một môi trường kinh doanh minh bạch, ổn định và thuận lợi hơn; đồng thời, chúng tôi xác định trách nhiệm của mình là chủ động nâng cao năng lực quản trị, đổi mới công nghệ và chuẩn bị nguồn lực cho những kế hoạch đầu tư dài hạn.

Doanh nghiệp cần tham gia xây dựng chính sách bằng những đề xuất thực chất và hiện thực hóa cơ hội từ cải cách bằng các dự án hiệu quả, việc làm có chất lượng và năng suất cao hơn. Tôi tin rằng khi Nhà nước thực hiện nhất quán các cam kết và doanh nghiệp chủ động đổi mới, chúng ta sẽ tạo được động lực tăng trưởng bền vững.

Chúng tôi sẵn sàng đóng góp nguồn lực và năng lực của mình để cùng hiện thực hóa các mục tiêu phát triển của đất nước.

Xin cảm ơn bà!

Nguyễn Cảnh

Nguồn Nhà Quản Trị: https://theleader.vn/ts-nguyen-thi-thanh-binh-cai-cach-phai-duoc-do-bang-tien-do-thuc-te-cua-du-an-d48038.html