Từ 0,7% lên 5% GDP: Ngành quỹ lấy gì để bứt tốc?

Thị trường chứng khoán bước sang vị thế mới cũng đặt ngành quỹ trước yêu cầu phát triển tương xứng. Từ quy mô NAV khoảng 0,7% GDP, mục tiêu hướng tới 5% GDP vào năm 2030 đòi hỏi không chỉ mở rộng số lượng quỹ và nhà đầu tư, mà còn phải tái cấu trúc cơ sở nhà đầu tư, đa dạng sản phẩm, chuẩn hóa dữ liệu, đổi mới vận hành và tạo dựng niềm tin để chuyển hóa nguồn vốn thành dòng vốn dài hạn cho nền kinh tế.

Thị trường chứng khoán bước sang vị thế mới cũng đặt ngành quỹ trước yêu cầu phát triển tương xứng (Ảnh TH)

Thị trường chứng khoán bước sang vị thế mới cũng đặt ngành quỹ trước yêu cầu phát triển tương xứng (Ảnh TH)

Không chỉ tăng quy mô, phải nâng chất lượng dòng vốn

Một ngày sau thời điểm thị trường chứng khoán Việt Nam chính thức được FTSE Russell nâng hạng lên thị trường mới nổi thứ cấp, câu chuyện phát triển ngành quỹ được đặt trong một bối cảnh mới. Theo Chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Nhà nước Vũ Thị Chân Phương, nâng hạng mở ra cơ hội cho thị trường và ngành quỹ, nhưng đồng thời đặt ra yêu cầu mới: khi vị thế và mức độ kết nối của thị trường được nâng lên, yêu cầu đối với các định chế đầu tư chuyên nghiệp cũng phải được nâng lên tương ứng.

Từ góc độ cơ quan quản lý, phát triển ngành quỹ vì vậy cần được đặt trong tổng thể quá trình tái cấu trúc cơ sở nhà đầu tư, nâng cao chất lượng thị trường, chất lượng dịch vụ của các công ty quản lý quỹ và khả năng huy động, phân bổ nguồn vốn trung, dài hạn cho nền kinh tế.

Sau gần 30 năm hình thành và phát triển của thị trường chứng khoán, ngành quỹ đã từng bước trở thành một cấu phần của thị trường vốn. Trong 10 năm qua, tổng giá trị tài sản quản lý bởi các công ty quản lý quỹ tăng bình quân trên 20% mỗi năm. Đáng chú ý, sự phát triển của quỹ mở và quỹ ETF đã góp phần đa dạng hóa sản phẩm, mở rộng lựa chọn cho nhà đầu tư. Hiện hai loại hình này chiếm khoảng 80% tổng giá trị tài sản ròng nhờ lợi thế về thanh khoản, tính linh hoạt trong phân bổ danh mục và mức độ minh bạch.

Nhưng theo bà Vũ Thị Chân Phương, kết quả đó mới là nền tảng. Mục tiêu trong giai đoạn tới không chỉ là tăng quy mô tài sản quản lý mà quan trọng hơn phải nâng cao chất lượng dòng vốn, năng lực quản trị, tính chuyên nghiệp và khả năng đóng góp của ngành quỹ đối với thị trường tài chính và nền kinh tế.

Theo định hướng của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, một trong những nhiệm vụ trước tiên là tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý, cơ chế chính sách và mở rộng không gian phát triển cho ngành quỹ. Các quy định liên quan đến công ty quản lý quỹ, quỹ đầu tư, đại lý phân phối và tổ chức cung cấp dịch vụ sẽ tiếp tục được rà soát, nghiên cứu hoàn thiện, qua đó tạo điều kiện phát triển đa dạng loại hình quỹ và sản phẩm phù hợp nhu cầu tích lũy, đầu tư dài hạn của người dân. Đổi mới phải đi cùng quản trị rủi ro, minh bạch, an toàn và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư.

Cùng với đó là yêu cầu tái cấu trúc cơ sở nhà đầu tư theo hướng tăng tỷ trọng nhà đầu tư tổ chức và chuyên nghiệp. Mục tiêu không đơn thuần tăng số lượng mà từng bước hình thành cơ sở nhà đầu tư cân bằng hơn, chuyên nghiệp hơn và có khả năng cung cấp nguồn vốn dài hạn tốt hơn cho thị trường. Đây cũng là nhiệm vụ có ý nghĩa đáng chú ý trong bối cảnh thị trường vừa được nâng hạng.

Chiều 22/9, Tổng công ty Lưu ký và Bù trừ Chứng khoán Việt Nam cùng Báo Tài chính – Đầu tư – cơ quan ngôn luận của Ngành tài chính và Công ty Cổ phần FiinGroup - đơn vị phân tích dữ liệu tài chính độc lập đã cùng chung tay khởi xướng Chương trình Xếp hạng Quỹ đầu tư Chứng khoán tại Việt Nam, với sứ mệnh đánh giá và vinh danh các quỹ đầu tư chứng khoán tại Việt Nam trên cơ sở dữ liệu, phương pháp luận chuẩn hóa và quy trình đánh giá độc lập, hướng tới mục tiêu xuyên suốt là thúc đẩy tính minh bạch và nâng cao chuẩn mực của ngành quản lý quỹ.

Bài toán bứt tốc từ 700.000 lên 2,5 triệu nhà đầu tư

Nếu định hướng quản lý đặt trọng tâm vào chất lượng dòng vốn thì những con số về quy mô cho thấy khoảng cách ngành quỹ phải vượt qua còn khá lớn. Tổng Giám đốc FiinGroup Nguyễn Hữu Hiệu cho biết, quy mô ngành quỹ hiện đạt khoảng 0,7% GDP nếu tính theo NAV, với tốc độ tăng trưởng khoảng 16% mỗi năm. Trong khi đó, mục tiêu đặt ra là đưa NAV lên tương đương 5% GDP vào năm 2030.

Quy mô tài sản quản lý, AUM, hiện vào khoảng 6% GDP và theo ông Hiệu vẫn khá khiêm tốn so với một số thị trường trong khu vực. AUM đồng thời tập trung chủ yếu tại một số công ty quản lý quỹ lớn. Bài toán vì vậy không chỉ nằm ở tăng trưởng mà còn là mở rộng chiều rộng của ngành.

Để hướng tới mục tiêu NAV bằng 5% GDP, ông Hiệu đặt ra những chỉ tiêu đáng chú ý: số quỹ đầu tư từ hơn 100 quỹ lên khoảng 500 quỹ; số nhà đầu tư từ 700.000 lên 2,5 triệu; tỷ lệ NAV/GDP từ 0,7% lên 5%. Theo tính toán được trình bày, quy mô này tương ứng yêu cầu tốc độ tăng trưởng 70-80% mỗi năm.

Muốn mở rộng cơ sở nhà đầu tư ở quy mô như vậy, cách tiếp cận sản phẩm cũng phải thay đổi. Một trong ba xu hướng được ông Hiệu chỉ ra là đa dạng hóa sản phẩm theo hướng dễ tiếp cận hơn với nhà đầu tư cá nhân. Từ kinh nghiệm quốc tế được dẫn tại hội nghị, hình thức đầu tư tích lũy với số tiền chỉ khoảng 80.000-150.000 đồng mỗi tháng có thể góp phần hình thành thói quen đầu tư dài hạn.

Cùng quan điểm mở rộng khả năng tiếp cận, Chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Nhà nước cho rằng, cần phát triển thêm các sản phẩm phù hợp nhu cầu tích lũy dài hạn của người dân, đồng thời nghiên cứu những sản phẩm có khả năng kết nối nguồn vốn với các lĩnh vực ưu tiên như hạ tầng, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, tăng trưởng xanh và phát triển bền vững. Đầu tư qua quỹ cần từng bước trở thành một kênh tích lũy tài chính chuyên nghiệp, minh bạch và dài hạn.

Để mở rộng nền tảng này, kiến thức tài chính cũng được đặt vào chương trình phát triển nhà đầu tư. Ủy ban Chứng khoán Nhà nước đã ký biên bản ghi nhớ với 6 trường đại học đào tạo kinh tế để đưa kiến thức đầu tư tài chính vào giảng dạy và hướng tới các trường phổ thông. Cơ quan quản lý cũng phối hợp triển khai các chương trình phổ biến kiến thức tài chính cho nhà đầu tư.

Muốn dòng vốn ở lại, phải chuẩn hóa “hạ tầng mềm”

Cơ hội mới từ dòng vốn quốc tế là một phần quan trọng của bức tranh. Theo bà Vũ Thị Chân Phương, quá trình gia nhập FTSE được thực hiện theo bốn đợt từ tháng 9/2026 đến tháng 9/2027. Vấn đề không chỉ là thu hút dòng vốn thụ động theo chỉ số mà còn hướng tới dòng vốn chủ động, dài hạn từ các quỹ đầu tư và công ty quản lý tài sản quốc tế.

Ở góc nhìn vận hành, ông Nguyễn Hữu Hiệu đặt câu hỏi xa hơn: không chỉ là dòng tiền vào mà còn là dòng tiền sẽ ở lại như thế nào. Khi quy mô quỹ và nhà đầu tư tăng mạnh, mô hình vận hành hiện tại cũng đứng trước yêu cầu thay đổi.

Theo ông Hiệu, ngành quỹ đang phải giải quyết bốn vấn đề cốt lõi: quy trình đầu tư chưa xuyên suốt; hoạt động xử lý còn thủ công, manh mún từ mở tài khoản, giao dịch đến báo cáo; thiếu kết nối dữ liệu toàn trình về vị thế, giá trị, NAV và hiệu quả đầu tư; quá trình tiếp nhận khách hàng và định danh còn mất nhiều thời gian, ảnh hưởng khả năng mở rộng sản phẩm.

Trí tuệ nhân tạo có thể hỗ trợ quá trình chuyển đổi, nhưng theo ông Hiệu, đa số quỹ hiện mới ứng dụng AI ở cấp độ cá nhân hoặc một số tác vụ đơn lẻ, chưa đưa vào quy trình toàn trình. Muốn công nghệ tạo giá trị, quy trình cần được tối ưu trước, sau đó mới tự động hóa, tạo giá trị thực và nhân rộng sang những quy trình khác.

Theo cách tiếp cận này, thị trường cần ba lớp năng lực gồm dữ liệu và đánh giá rủi ro đáng tin cậy; vận hành quản lý quỹ xuyên suốt, kết nối danh mục, giao dịch, tính NAV và báo cáo tuân thủ; cùng với ứng dụng AI vào những nghiệp vụ cốt lõi. Chuỗi vận hành cần bảo đảm sự liền mạch từ dữ liệu đáng tin cậy, quyết định có cơ sở, thực thi có kiểm soát đến kết quả có thể kiểm chứng. Mục tiêu NAV bằng 5% GDP, theo ông Hiệu, chỉ có thể đạt được khi “hạ tầng mềm” về dữ liệu, kết nối, ra quyết định và thông tin vòng đời đầu tư được chuẩn hóa.

Yêu cầu về minh bạch và khả năng so sánh cũng được đặt ra trong Chương trình Xếp hạng Quỹ đầu tư chứng khoán Việt Nam 2026. Chủ tịch HĐTV VSDC Nguyễn Sơn cho biết, chương trình đánh giá 100 quỹ đang hoạt động tại Việt Nam, với tổng NAV cuối năm 2025 đạt 90.000 tỷ đồng. Mục tiêu là tạo chuẩn tham chiếu khách quan, thúc đẩy dòng vốn dài hạn, kết nối hệ sinh thái và ghi nhận các quỹ hoạt động hiệu quả.

Tổng Giám đốc VSDC Tạ Thanh Bình cho biết, dữ liệu của 100 quỹ được chốt cùng thời điểm 31/12/2025. Quy trình đánh giá gồm sáu bước, hai giai đoạn; việc tính toán được thực hiện tự động theo phương pháp luận ban hành và kết quả chỉ chính thức khi có trên 60% thành viên Hội đồng đánh giá biểu quyết tán thành. Hội đồng đồng thời lưu ý kết quả xếp hạng mang tính tham khảo và nhà đầu tư cần kết hợp các nguồn thông tin khác khi quyết định.

Từ mục tiêu mở rộng nhà đầu tư trong nước đến cơ hội tiếp cận dòng vốn quốc tế, điểm quan trọng là yêu cầu nâng chất lượng của ngành quỹ. Quy mô lớn hơn cần đi cùng sản phẩm đa dạng hơn, vận hành hiệu quả hơn, dữ liệu minh bạch hơn và cơ sở nhà đầu tư chuyên nghiệp hơn. Khi đó, ngành quỹ mới có điều kiện thực hiện vai trò mà cơ quan quản lý đặt ra: không chỉ cung cấp sản phẩm đầu tư, mà trở thành lực lượng định chế chuyên nghiệp tập hợp và chuyển hóa nguồn vốn dài hạn cho thị trường và nền kinh tế.

Những con số đáng chú ý về ngành quỹ

Trên 20%/năm: mức tăng bình quân tổng tài sản quản lý bởi các công ty quản lý quỹ trong 10 năm qua.
Khoảng 80%: tỷ trọng quỹ mở và ETF trong tổng giá trị tài sản ròng.
0,7% GDP: quy mô NAV ngành quỹ hiện tại theo số liệu được trình bày tại hội nghị.
5% GDP: mục tiêu NAV của ngành quỹ vào năm 2030.
Hơn 100 lên khoảng 500 quỹ: quy mô được đặt ra để hướng tới mục tiêu năm 2030.
700.000 lên 2,5 triệu: mục tiêu mở rộng số lượng nhà đầu tư.
100 quỹ, NAV 90.000 tỷ đồng: phạm vi đánh giá của VFA 2026 tính đến cuối năm 2025.

Trần Hương

Nguồn TBNH: https://thoibaonganhang.vn/tu-07-len-5-gdp-nganh-quy-lay-gi-de-but-toc-187908.html