Từ 'bốn khoảng trống' đến tư duy mới về phát triển văn hóa
Qua việc nhận diện 'bốn khoảng trống' và đề ra những chuyển dịch mới trong tư duy, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước định hướng đưa văn hóa trở thành nguồn lực phát triển.
Sáu tháng sau khi Nghị quyết 80 của Bộ Chính trị được triển khai, 100% địa phương đã ban hành chương trình hành động. Nhưng theo Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, khoảng cách từ chủ trương đến sản phẩm, từ chương trình đến tác động thực tế vẫn còn lớn.
Từ thực tiễn đó, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước không chỉ nhìn lại kết quả triển khai Nghị quyết, mà còn đặt ra một yêu cầu lớn hơn là làm thế nào để văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần, nguồn lực nội sinh và động lực quan trọng cho phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm phát biểu chỉ đạo tại phiên họp thứ hai của Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hóa Việt Nam. (Ảnh: Cổng TTĐT Đảng Cộng sản Việt Nam)
Nhìn văn hóa như một chuỗi giá trị
Điều mới trong chỉ đạo của người đứng đầu Đảng và Nhà nước không nằm ở việc chỉ ra thêm những hạn chế của lĩnh vực văn hóa, mà ở cách những hạn chế ấy được nhìn nhận. Nếu trước đây các vấn đề của văn hóa thường được nhìn theo từng lĩnh vực, thì lần này, chúng được đặt trong mối liên hệ của cả một chuỗi tạo ra giá trị.
Đó là “bốn khoảng trống” được chỉ ra: sức hấp dẫn và năng lực lan tỏa của các giá trị văn hóa tích cực trong môi trường số chưa theo kịp tốc độ phát triển của các nền tảng và nội dung số; năng lực chuyển hóa di sản văn hóa thành nguồn lực dữ liệu, tri thức số, tài sản trí tuệ và sức sáng tạo quốc gia; năng lực sáng tạo các sản phẩm văn hóa có sức cạnh tranh quốc gia còn hạn chế; thể chế và hệ sinh thái phát triển công nghiệp văn hóa.
Trả lời Báo Điện tử VTC News, PGS.TS Bùi Hoài Sơn, Ủy viên chuyên trách Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội, cho rằng điểm mới của cách tiếp cận này không dừng lại ở việc nêu những hạn chế riêng lẻ, mà nhận diện một cách hệ thống khoảng cách giữa tiềm năng văn hóa rất lớn của đất nước với năng lực chuyển hóa tiềm năng đó thành sản phẩm, tài sản, thị trường và sức mạnh quốc gia.
Theo chuyên gia, “bốn khoảng trống” được Tổng Bí thư, Chủ tịch nước chỉ ra bao quát gần như toàn bộ chuỗi giá trị của văn hóa, từ khả năng lan tỏa các giá trị Việt Nam trên môi trường số, chuyển hóa di sản thành dữ liệu và tài sản trí tuệ, đến sáng tạo sản phẩm và hoàn thiện thể chế phát triển công nghiệp văn hóa.
“Đây không phải là bốn vấn đề tách rời mà liên kết chặt chẽ với nhau. Không có dữ liệu văn hóa tốt thì khó sáng tạo sản phẩm mới; không có cơ chế bảo hộ tài sản trí tuệ thì người sáng tạo khó sống được bằng nghề; không có thị trường và doanh nghiệp dẫn dắt thì sản phẩm văn hóa khó đi xa; không có sức hấp dẫn trên môi trường số thì văn hóa dân tộc có nguy cơ bị thu hẹp không gian hiện diện”, ông Sơn phân tích.

Nghị quyết 80 chỉ thực sự đi vào cuộc sống khi những khoảng trống được lấp đầy bằng những sản phẩm văn hóa có giá trị, những doanh nghiệp có năng lực, những dữ liệu có thể khai thác và những thay đổi mà người dân có thể cảm nhận được.
PGS.TS Bùi Hoài Sơn
Từ góc nhìn đó, việc nhận diện đúng những khoảng trống cũng chính là xác định đúng nơi cần tập trung nguồn lực.
Theo ông, sau nửa năm triển khai Nghị quyết 80, tất cả địa phương đã ban hành chương trình hành động, nhưng khoảng cách từ chủ trương đến sản phẩm, từ chương trình đến đời sống vẫn còn khá lớn. Vậy nên, ý nghĩa lớn nhất của việc chỉ ra “bốn khoảng trống” là giúp quá trình triển khai Nghị quyết tránh được tình trạng dàn trải, hình thức.
“Mỗi bộ, ngành, địa phương phải trả lời cụ thể mình sẽ lấp khoảng trống nào, bằng chính sách gì, nguồn lực nào, sản phẩm nào và kết quả được đo lường ra sao. Nghị quyết chỉ thực sự đi vào cuộc sống khi những khoảng trống được lấp đầy bằng những sản phẩm văn hóa có giá trị, những doanh nghiệp có năng lực, những dữ liệu có thể khai thác và những thay đổi mà người dân có thể cảm nhận được”, ông Sơn nhấn mạnh.
Nếu “bốn khoảng trống” giúp nhận diện những mắt xích còn thiếu của quá trình phát triển, thì “ba chuyển dịch lớn” mà Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nêu ra lại cho thấy cách thức để lấp đầy những khoảng trống ấy.
PGS. TS Bùi Hoài Sơn nhận định, đây không chỉ là sự điều chỉnh về cách diễn đạt, mà là sự thay đổi căn bản trong triết lý phát triển và quản trị văn hóa.
Khi văn hóa được xác định không chỉ là một lĩnh vực mà là nền tảng tinh thần, trụ cột phát triển và động lực tăng trưởng mới, chính sách văn hóa không thể tiếp tục đứng riêng trong phạm vi của ngành văn hóa. Văn hóa phải hiện diện trong quy hoạch đô thị, giáo dục, khoa học - công nghệ, phát triển kinh tế, đối ngoại, quốc phòng, an ninh và quản trị quốc gia. Mỗi chính sách phát triển đều cần được xem xét đồng thời dưới góc độ kinh tế, xã hội và văn hóa.
Đối với chuyển từ không gian văn hóa truyền thống sang phát triển trong không gian thực và không gian số, điều đó đòi hỏi phải mở rộng khái niệm về hạ tầng văn hóa.
“Hạ tầng văn hóa hôm nay không chỉ là nhà hát, bảo tàng, thư viện hay trung tâm văn hóa, mà còn bao gồm cơ sở dữ liệu, nền tảng số, công nghệ phân phối nội dung và khả năng tiếp cận công chúng trên môi trường mạng. Chính sách vì thế phải quan tâm đến dữ liệu văn hóa, bản quyền số, thuật toán, công nghệ và năng lực sáng tạo nội dung”, ông Sơn nêu quan điểm.
Trong khi đó, chuyển từ bảo tồn là chủ yếu sang kết hợp bảo tồn và sáng tạo cũng làm thay đổi cách nhìn về di sản. Theo ông, di sản không chỉ là đối tượng cần giữ gìn nguyên trạng, mà còn là nguồn tài nguyên đặc biệt để tạo ra tri thức mới, sản phẩm mới và những trải nghiệm mới. Một di sản chỉ thực sự sống khi tiếp tục đối thoại với đời sống đương đại, được thế hệ trẻ hiểu, yêu thích và sáng tạo trên nền tảng những giá trị cốt lõi của nó.
Từ những chuyển dịch đó, phương thức quản lý cũng phải thay đổi từ quản lý hành chính sang kiến tạo phát triển; từ phân bổ nguồn lực bình quân sang đầu tư có trọng điểm; từ đánh giá bằng số lượng hoạt động sang đo lường bằng sức hấp dẫn, khả năng lan tỏa, giá trị kinh tế, tài sản trí tuệ và tác động xã hội.
“Điều quan trọng là phải tạo được một môi trường trong đó nghệ sĩ, doanh nghiệp, cộng đồng và người dân đều có thể trở thành chủ thể sáng tạo. Nhà nước không làm thay thị trường và xã hội, nhưng phải xây dựng luật chơi minh bạch, bảo vệ quyền sáng tạo, hỗ trợ những lĩnh vực có tính dẫn dắt và bảo đảm mọi người dân đều được tham gia, sáng tạo và thụ hưởng văn hóa”, ông Sơn nói.

Khối diễu hành Ngành Văn hóa - Thể thao tại Lễ kỷ niệm, diễu binh, diễu hành 80 năm Cách mạng tháng Tám thành công và Quốc khánh 2/9. (Ảnh: VGP)
Công nghiệp văn hóa - từ mục tiêu sang tư duy dự án
Nếu “bốn khoảng trống” trả lời câu hỏi văn hóa đang thiếu gì, thì yêu cầu phát triển công nghiệp văn hóa lại hướng đến một mục tiêu là làm thế nào để chuyển những giá trị văn hóa thành động lực tăng trưởng.
Điểm mới không nằm ở mục tiêu đóng góp 7% GDP vào năm 2030 hay 9% vào năm 2045, mà ở cách tổ chức thực hiện. Thay vì dừng ở định hướng chung, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước yêu cầu xác định rõ lĩnh vực có khả năng tạo tăng trưởng, địa phương có lợi thế, doanh nghiệp đủ năng lực và dự án có thể tạo ra sản phẩm, doanh thu, việc làm và tài sản trí tuệ.
Theo PGS.TS Bùi Hoài Sơn, đây là điểm mới rất rõ trong tư duy phát triển công nghiệp văn hóa.
Công nghiệp văn hóa không còn được tiếp cận chủ yếu dưới dạng mục tiêu chung, định hướng dài hạn hay danh mục các ngành có tiềm năng, mà được đặt vào một logic phát triển rất cụ thể.
“Đó là sự chuyển dịch từ tư duy phong trào sang tư duy dự án; từ việc nói về tiềm năng sang xác định năng lực thực tế; từ đầu tư dàn trải sang lựa chọn trọng điểm”, ông Sơn nhận định.
Theo phân tích của vị chuyên gia văn hóa, việc yêu cầu mỗi địa phương trọng điểm chỉ lựa chọn một số ít lĩnh vực và không quá ba dự án dẫn dắt sẽ góp phần khắc phục tình trạng nhiều địa phương xây dựng các đề án công nghiệp văn hóa gần giống nhau nhưng chưa làm rõ lợi thế khác biệt.
“Không phải nơi nào cũng cần trở thành trung tâm điện ảnh, âm nhạc hay thiết kế. Mỗi địa phương phải lựa chọn lĩnh vực phù hợp với di sản, nguồn nhân lực, hạ tầng, doanh nghiệp và khả năng liên kết vùng của mình”, ông Sơn nói và nhìn nhận cách tiếp cận đó cũng đặt khu vực tư nhân vào đúng vị trí trong hệ sinh thái công nghiệp văn hóa.
Nhà nước giữ vai trò kiến tạo thể chế, đầu tư hạ tầng và hỗ trợ những lĩnh vực có rủi ro cao; doanh nghiệp tổ chức sản xuất, đưa sản phẩm ra thị trường; còn nghệ sĩ, nhà sáng tạo và cộng đồng là nơi hình thành những ý tưởng và giá trị khác biệt.
Ở góc độ quản trị, điểm được ông Sơn đánh giá cao là yêu cầu xây dựng hệ thống thống kê quốc gia về công nghiệp văn hóa. Khi có số liệu về doanh thu, xuất khẩu, việc làm, giá trị bản quyền, tài sản trí tuệ và mức độ tham gia của doanh nghiệp Việt Nam trong chuỗi giá trị, việc xây dựng chính sách sẽ có thêm cơ sở thực tiễn thay vì chủ yếu dựa vào đánh giá định tính.
Tuy nhiên, vị ĐBQH cũng lưu ý rằng công nghiệp văn hóa không thể chỉ được đo bằng doanh thu.
“Giá trị kinh tế phải gắn với giá trị nghệ thuật, giáo dục, bản sắc và trách nhiệm xã hội. Phát triển công nghiệp văn hóa không phải là thương mại hóa bằng mọi giá, mà là sử dụng phương thức công nghiệp, công nghệ và thị trường để đưa những giá trị tốt đẹp của văn hóa Việt Nam đến với đông đảo công chúng hơn”, PGS.TS Bùi Hoài Sơn nói thêm.

Thực tế, trong khi nhiều lĩnh vực như giao thông, y tế, giáo dục đã hình thành những cơ chế đầu tư tương đối rõ ràng thì đầu tư cho văn hóa vẫn còn nhiều lúng túng.
PGS.TS Nguyễn Thị Thu Phương
Cùng bàn về phát triển công nghiệp văn hóa, PGS.TS Nguyễn Thị Thu Phương, Viện trưởng Viện Văn hóa, Nghệ thuật, Thể thao và Du lịch Việt Nam (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) cho rằng bên cạnh việc xác định đúng hướng đi, điều quan trọng là phải tạo dựng những điều kiện để các định hướng đó có thể đi vào thực tiễn.
Bà Phương nhận định, Việt Nam có nhiều cơ sở để sẵn sàng cho sự phát triển mạnh mẽ hơn của các ngành công nghiệp văn hóa.
Đó là nguồn tài nguyên văn hóa phong phú được tích lũy qua hàng nghìn năm lịch sử; cơ cấu dân số vàng với lực lượng lao động trẻ, đặc biệt nhóm tuổi từ 15 đến 35 - lực lượng sáng tạo chủ lực của các ngành công nghiệp văn hóa; cùng sự phát triển của hạ tầng công nghệ và quá trình chuyển đổi số, tạo điều kiện để các sản phẩm văn hóa tiếp cận công chúng rộng hơn.
Tuy nhiên, theo bà, có lợi thế không đồng nghĩa với việc tự động tạo ra sự bứt phá. “Chúng ta đang ở trạng thái sẵn sàng nhưng chưa thực sự tạo được cú hích”, bà Phương nói.
PGS.TS Nguyễn Thị Thu Phương cho rằng điểm nghẽn hiện nay nằm ở thể chế và cơ chế vận hành. Sức sáng tạo hiện nay tập trung chủ yếu trong cộng đồng sáng tạo và giới trẻ, nhưng hệ thống chính sách vẫn chưa theo kịp để tạo điều kiện cho nguồn lực này phát huy hết khả năng.
Một thực tế được bà Phương chỉ ra là trong khi nhiều lĩnh vực như giao thông, y tế, giáo dục đã hình thành những cơ chế đầu tư tương đối rõ ràng thì đầu tư cho văn hóa vẫn còn nhiều lúng túng. Không chỉ là câu chuyện thiếu nguồn lực, vấn đề còn nằm ở việc sử dụng nguồn lực như thế nào để hiệu quả.
Theo bà, cùng với việc tiếp tục hoàn thiện thể chế, cần giải quyết đồng thời bài toán phân bổ nguồn lực giữa khu vực công và khu vực tư; tạo môi trường thuận lợi để doanh nghiệp và các cá nhân sáng tạo tham gia sâu hơn vào quá trình phát triển công nghiệp văn hóa.
Một điểm nghẽn khác được Viện trưởng Viện Văn hóa, Nghệ thuật, Thể thao và Du lịch Việt Nam đề cập là chất lượng nguồn nhân lực.
Hiện nay, hệ thống giáo dục, đào tạo và nghiên cứu về công nghiệp văn hóa ở Việt Nam vẫn chưa thực sự đáp ứng yêu cầu phát triển. Nhiều lĩnh vực còn thiếu đội ngũ giảng viên, chuyên gia được đào tạo bài bản, dẫn tới khoảng trống trong đào tạo nhân lực chất lượng cao.
“Muốn tạo ra thay đổi, phải đầu tư cho nguồn nhân lực, cho giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng và tập huấn. Đây là điều kiện rất quan trọng để hình thành đội ngũ sáng tạo trong tương lai”, bà Nguyễn Thị Thu Phương nhấn mạnh.
Từ việc nhận diện những “khoảng trống” của phát triển văn hóa đến yêu cầu phát triển công nghiệp văn hóa theo tư duy dự án, những định hướng được Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đặt ra đều hướng tới mục tiêu thu hẹp khoảng cách giữa chủ trương và thực tiễn.
Đó cũng là thách thức đặt ra trong giai đoạn tiếp theo của Nghị quyết 80: chuyển những định hướng thành sản phẩm, thị trường và những giá trị mà người dân có thể cảm nhận được.











