Từ chế độ tế tự của triều Nguyễn nghĩ về công tác quản trị tôn giáo, tín ngưỡng hiện nay
HNN.VN - Lịch sử không cung cấp sẵn lời giải, nhưng giúp hiện tại đặt câu hỏi đúng. Đọc lại chế độ tế tự triều Nguyễn, điều đáng suy nghĩ không chỉ là nghi lễ, mà còn là cách nhà nước ứng xử với đời sống tinh thần, phân định trách nhiệm và kết nối cộng đồng. Từ Huế, nơi ký ức cung đình vẫn hiện diện trong đời sống, vấn đề ấy đặt ra một yêu cầu: quản trị tín ngưỡng, tôn giáo phải đúng pháp luật, hiểu văn hóa và tôn trọng con người.

Tái hiện lễ thiết triều ở Đại Nội
Hiểu lịch sử để lựa chọn điều cần kế thừa
Chế độ tế tự thần linh triều Nguyễn, qua bộ Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ (viết tắt là Hội điển), là hệ thống được tổ chức công phu. Đàn miếu, lăng tẩm, chủ tế, lễ phẩm, nhạc lễ, nhân lực và nguồn lực đều có quy định bài bản, chặt chẽ. Đằng sau mỗi lễ tế là bộ máy chịu trách nhiệm xây dựng, tu bổ, bảo vệ và tổ chức thực hành.
Đó là năng lực thiết chế hóa của nhà nước quân chủ. Sự tôn nghiêm được bảo đảm bằng trách nhiệm cụ thể, từ giữ gìn đồ thờ đến bố trí nhân lực, chuẩn bị lễ vật. Công trình thờ tự muốn tồn tại phải có người chăm sóc, nguồn lực duy trì và cơ chế chịu trách nhiệm. Kinh nghiệm ấy vẫn có ý nghĩa khi nhiều di tích liên quan đồng thời đến văn hóa, tôn giáo, đất đai và du lịch. Thiếu đầu mối chịu trách nhiệm, sự phối hợp dễ trở thành khoảng trống quản lý.
Nhưng tế tự triều Nguyễn còn là phương thức biểu đạt quyền lực. Nhà vua giữ vị trí trung tâm trong những nghi lễ quan trọng; thứ bậc nghi lễ gắn với trật tự quân thần và quan niệm về tính chính thống. Việc phong thần, gia phong mỹ tự hay loại một đối tượng khỏi tự điển cũng thể hiện quyền lựa chọn ký ức của vương triều. Bởi vậy, không thể chuyển nguyên những quan niệm ấy thành chuẩn mực cho hiện tại.
Không nên đồng nhất điển lễ với quản lý tôn giáo theo nghĩa hiện đại. Tế tự ở đàn Nam Giao, đàn Xã Tắc, các tôn miếu vừa có chiều kích tín ngưỡng, vừa thuộc nghi lễ nhà nước. Những khái niệm chính thần, dâm từ hay thiên mệnh phải được đặt trong bối cảnh lịch sử. Kế thừa đòi hỏi nhận diện cả giá trị lẫn giới hạn; kính trọng quá khứ không có nghĩa lấy trật tự của quá khứ làm khuôn mẫu cho hiện tại.
Tuy nhiên, Hội điển ghi điều triều đình quy định, còn đời sống đa dạng hơn. Lệnh cấm không chứng minh hiện tượng đã biến mất; nghi thức thống nhất không có nghĩa mọi nơi thực hành giống nhau. Muốn hiểu thực tế, phải đối chiếu chính sử, Châu bản, sắc phong, văn bia và tư liệu cộng đồng.
Bài học ấy rất gần với công việc hôm nay: không thể đánh giá chính sách chỉ bằng số văn bản hay báo cáo. Phải xem người dân được hướng dẫn ra sao, vướng mắc có được giải quyết, cơ sở thờ tự có được bảo vệ, cộng đồng có được lắng nghe. Khoảng cách giữa quy định và thực hành là thước đo năng lực quản trị; thu hẹp khoảng cách ấy phải trở thành trách nhiệm của bộ máy.

Đoàn rước trong lễ hội điện Huệ Nam
Yêu cầu quản trị di sản sống
Huế cho phép nhìn những vấn đề ấy trong một không gian cụ thể. Hệ thống đàn tế, tôn miếu, lăng tẩm, chùa quán gắn với sông Hương, núi đồi và cấu trúc kinh đô tạo nên những mối liên hệ vượt khỏi từng công trình. Hồ sơ UNESCO về Quần thể Di tích Cố đô Huế được xây dựng từ năm 1993 cũng nhấn mạnh quan hệ giữa kiến trúc với cảnh quan và ý nghĩa biểu tượng của địa điểm. Vì vậy, công tác bảo tồn phải quan tâm đến chỉnh thể đã làm nên giá trị di sản.
Một ngôi điện được sửa mái, gia cố tường nhưng mất đường tiếp cận truyền thống, bị chia cắt cảnh quan hoặc thiếu người tiếp nối nghi lễ vẫn có thể suy giảm ý nghĩa. Trong không gian thiêng, vật chất và tinh thần gắn bó mật thiết. Bảo tồn chỉ chăm lo công trình sẽ thiếu chiều sâu; lễ hội sôi động mà gây tổn hại di tích cũng không thể gọi là phát huy giá trị. Thành công phải được đo bằng khả năng gìn giữ cả không gian và mạch sống văn hóa.
Điện Huệ Nam là một trường hợp đáng suy nghĩ. Những tư liệu công bố từ chính sử và Châu bản cho thấy triều đình quan tâm tu sửa đền Ngọc Trản dưới thời vua Minh Mạng; đến năm 1886, vua Đồng Khánh đổi tên thành điện Huệ Nam và tiếp tục chăm lo việc xây dựng, thờ phụng. Quan hệ giữa cung đình và tín ngưỡng dân gian ở đây có sự tiếp nhận, điều chỉnh và dung hợp, không chỉ vận động theo một chiều.
Điện Huệ Nam và giao lưu văn hóa Chăm, Việt gợi mở cách hiểu bản sắc Huế. Việc tiếp nhận nữ thần Thiên Y A Na cho thấy khả năng kết nối các lớp văn hóa, tạo hình thức biểu đạt phù hợp. Bản sắc được bồi đắp qua thích ứng và trao truyền; sức sống cộng đồng cũng bắt nguồn từ khả năng dung hợp ấy.
Ngày nay, lễ hội điện Huệ Nam tiếp tục nối không gian thờ phụng với tuyến rước trên sông Hương và sự tham gia của người thực hành. Đó là đời sống đang vận động, với nhu cầu tâm linh, quan hệ cộng đồng và những trách nhiệm rất cụ thể. Người quản lý cần hiểu ý nghĩa của lộ trình tuyến rước, thời điểm hành lễ, quy tắc ứng xử và những giới hạn mà cộng đồng mong được tôn trọng.
Vì vậy, cần phân biệt phục dựng nghi lễ cung đình để giới thiệu di sản với sinh hoạt tín ngưỡng do cộng đồng duy trì. Lễ Truyền Lô hay lễ Đại triều được phục dựng phục vụ du khách có mục đích, chủ thể khác lễ hội điện Huệ Nam. Đưa tất cả vào một công thức sự kiện dễ làm mờ ý nghĩa của cả hai. Sức hấp dẫn của Huế phải đến từ chiều sâu văn hóa, không thể chỉ trông vào quy mô trình diễn hoặc độ dài chương trình.
Giá trị của đô thị di sản được kiểm chứng trong cách ứng xử hằng ngày: một quyết định tu bổ, một phương án đón khách, một tuyến giao thông, một cuộc đối thoại với người giữ đền. Huế càng phát triển, yêu cầu điều hòa giữa bảo tồn, thực hành và khai thác càng lớn. Những quyết định nhỏ, nếu thiếu hiểu biết, có thể tích tụ thành tổn thất lớn đối với di sản và lòng tin cộng đồng.

Cần phân biệt phục dựng nghi lễ cung đình để giới thiệu di sản với sinh hoạt tín ngưỡng do cộng đồng duy trì.
Lấy quyền và sự thấu hiểu làm nền tảng
Điểm xuất phát của quản trị hiện nay là quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo được Hiến pháp bảo đảm. Điều 24 Hiến pháp năm 2013 khẳng định quyền theo hoặc không theo một tôn giáo, sự bình đẳng giữa các tôn giáo và trách nhiệm tôn trọng, bảo hộ của Nhà nước. Đó là nền tảng để xác định mục tiêu, phương thức và giới hạn của quản lý. Kinh nghiệm quản lý tôn giáo của thời quân chủ chỉ có thể được tham khảo trong khuôn khổ nền tảng ấy.
Nhà nước hiện đại bảo đảm quyền, thực thi pháp luật và giải quyết các quan hệ xã hội phát sinh. Năng lực quản trị thể hiện ở hướng dẫn rõ ràng, đối thoại thực chất, xử lý đúng thẩm quyền và bảo vệ lợi ích công cộng. Người dân phải biết quy định, nơi cần liên hệ và căn cứ của câu trả lời. Minh bạch vừa thuận lợi cho tuân thủ, vừa ngăn cách xử lý tùy tiện; đó là yêu cầu của nền hành chính phục vụ.
Thực tế tín ngưỡng, tôn giáo rất đa dạng. Một cơ sở tôn giáo đang hoạt động, một di tích tín ngưỡng làng xã và một địa điểm phục dựng nghi lễ cung đình có thể cùng mang giá trị văn hóa, nhưng không vì thế mà có cùng cơ chế quản lý. Phân biệt đúng tính chất là điều kiện để áp dụng đúng quy định. Sự thuận tiện cho bộ máy không thể trở thành lý do giản lược những khác biệt có thật trong đời sống.
Đặc biệt, cần phân biệt niềm tin với hành vi gây hại. Một nghi thức xa lạ đối với người quan sát không mặc nhiên là hành vi vi phạm. Khi có dấu hiệu lừa đảo, ép buộc, trục lợi hoặc gây mất an toàn, phải xem xét bằng chứng và hành vi cụ thể theo pháp luật. Đồng thời, người thực hành cần được giải thích và tham gia trao đổi, để giải pháp có cơ sở và có khả năng được tiếp nhận.
Quản trị cũng đòi hỏi sự tham gia. Tinh thần Công ước UNESCO năm 2003 đề cao vai trò của cộng đồng, nhóm và cá nhân tạo lập, duy trì, trao truyền di sản. Với thực hành tín ngưỡng, cộng đồng còn giữ tri thức về ý nghĩa, trình tự và giới hạn tiếp cận. Thiếu tiếng nói ấy, một phương án tưởng hợp lý trên giấy có thể làm đứt mạch thực hành hoặc tạo ra những xung đột đáng tiếc.
Đối thoại phải bắt đầu khi xây dựng phương án. Hỏi cộng đồng sau khi mọi việc đã quyết định chỉ tạo sự tham gia hình thức. Người dân cần biết vấn đề, lựa chọn và trách nhiệm của từng bên; cơ quan quản lý phải giải thích điều có thể đáp ứng, điều cần điều chỉnh cùng căn cứ quyết định. Lòng tin hình thành từ quá trình ấy, chứ không thể được thay thế bằng lời kêu gọi đồng thuận.

Với thực hành tín ngưỡng, cộng đồng còn giữ tri thức về ý nghĩa, trình tự và giới hạn tiếp cận.
Những việc cần làm ngay
Trước hết, Huế cần làm rõ cơ chế phối hợp tại những địa điểm có nhiều chủ thể liên quan. Quy chế phải xác định đầu mối, trách nhiệm, thời hạn và trình tự giải quyết, để đề nghị tu bổ hoặc tổ chức sinh hoạt không bị chuyển vòng quanh. Mỗi việc phải có người chịu trách nhiệm đến cùng. Hiệu quả phối hợp nằm ở kết quả có thể kiểm chứng, không nằm ở số cuộc họp hay văn bản trao đổi.
Tại điện Huệ Nam, nên duy trì đối thoại định kỳ giữa cộng đồng thực hành, đơn vị quản lý di tích, chính quyền và cơ quan chuyên môn. Nội dung cần cụ thể: lịch lễ, không gian, hiện vật, tuyến rước, an toàn đường thủy, vệ sinh, đón khách. Thống nhất trách nhiệm trước mùa lễ sẽ giảm xử lý bị động khi phát sinh vấn đề.
Thứ hai, cần quản lý quan hệ giữa di tích, cảnh quan và sinh hoạt. Với lễ hội trên sông, phương án phải tính đến bến thuyền, điểm tập kết và khả năng tiếp nhận của từng địa điểm. Hoạt động dịch vụ cần được bố trí để hỗ trợ người tham gia, bảo đảm an toàn và giữ sự trang nghiêm. Du lịch có thể tạo thêm nguồn lực, nhưng sức hấp dẫn lâu dài phụ thuộc vào chất lượng trải nghiệm và sự bền vững của di sản.
Thứ ba, số hóa phải phục vụ việc hiểu và bảo vệ di sản. Hồ sơ nên nối kết các dữ liệu từ sắc phong, văn bia, bản đồ, kiến trúc, nghi lễ đến lời kể của người thực hành. Mỗi dữ liệu cần ghi rõ nguồn, niên đại, mức độ xác thực; truyền khẩu phải được nhận diện đúng tính chất. Việc công bố hình ảnh, thông tin cá nhân và tri thức có giới hạn tiếp cận cần được trao đổi với chủ thể liên quan. Công nghệ chỉ hữu ích khi đi cùng trách nhiệm.
Thứ tư, nguồn lực cần minh bạch và có khả năng quay lại nuôi dưỡng di sản. Các khoản thu, chi phục vụ bảo tồn, lễ hội phải có trách nhiệm giải trình phù hợp. Khi hoạt động du lịch khai thác giá trị tín ngưỡng, cần tính đến việc hỗ trợ tu bổ, truyền dạy và người gìn giữ thực hành. Sự đóng góp tự nguyện phải được tôn trọng; không nên biến nhiệt tâm cộng đồng thành nghĩa vụ tài chính áp đặt.
Thứ năm, cán bộ và người làm truyền thông cần được bồi dưỡng tri thức lịch sử, pháp luật, kỹ năng đối thoại. Một cách gọi thiếu chính xác có thể gây định kiến; một sản phẩm quảng bá chạy theo cảnh tượng có thể làm lệch ý nghĩa nghi lễ. Báo chí Huế cần kết nối sử liệu với tiếng nói cộng đồng, giải thích vấn đề rõ ràng và góp phần xây dựng văn hóa ứng xử trong không gian thiêng.
Cuối cùng, hãy đánh giá quản trị bằng thay đổi người dân cảm nhận được: thủ tục thuận lợi, vướng mắc được giải quyết, di tích được bảo vệ và cộng đồng có tiếng nói. Từ chế độ tế tự triều Nguyễn, điều cần kế thừa là sự nghiêm túc trong tổ chức và hiểu biết đời sống tinh thần, được phát triển trên nền tảng pháp luật, đối thoại, trách nhiệm. Huế chỉ có thể gìn giữ chiều sâu đô thị di sản khi người dân được tôn trọng và thực hành văn hóa được chăm sóc. Quản trị tín ngưỡng, tôn giáo vì thế cũng là quản trị lòng tin, là cách chứng minh bản lĩnh văn hóa trong phát triển.

