Từ chiếc bánh aquat, chạm vào hương tết Trường Sơn
HNN - Đã nhiều lần ăn bánh aquat, đã quen với mùi thơm nếp than hòa quyện lá đót, nhưng phải đến những ngày cận tết cổ truyền năm Bính Ngọ, tôi mới thật sự được 'chạm tay' vào từng công đoạn làm nên chiếc bánh sừng trâu mộc mạc ấy…

Phụ nữ Pa Cô chuẩn bị lá đót và nếp than bắt đầu công đoạn gói bánh aquat
Những ngày cuối năm, khi mưa rừng Trường Sơn còn vương trên các triền núi và cái lạnh se sắt bao trùm thung lũng A Lưới, tôi lại có dịp trở lại vùng cao này.
A Lưới những ngày giáp Tết rộn ràng theo cách riêng. Chợ A Lưới họp từ sớm, người đi chợ nói cười râm ran giữa làn sương mỏng. Tôi theo chị Hồ Thị Thơm, người Pa Cô sống ở xã A Lưới 2, vào chợ mua nếp. Gian hàng nằm gọn một góc, với nhiều loại nếp khác nhau, có nếp trắng, nếp đỏ, loại hạt dài, có loại hạt tròn… Chị Thơm vừa lựa, vừa giải thích rằng để làm bánh aquat thì chỉ có một lựa chọn, đó là nếp than. Đó là thứ nếp mà bà con vùng cao vẫn nói vui là loại nếp “ăn một lần là nhớ”. Hạt nếp nhỏ, sẫm màu, khi nấu lên cho vị bùi và mùi thơm rất riêng. Chọn sai nếp thì bánh vẫn thành hình, nhưng hương vị sẽ khác đi nhiều.
Trưa đến, trong gian nhà sàn đã rộn ràng tiếng cười nói. Nếp than được cho ra mẹt, để ráo. Lá đót lau khô, xếp gọn bên cạnh. Cách gói bánh nhìn qua tưởng đơn giản nhưng khi làm mới thấy cần sự khéo léo. Lá được cuốn thành hình phễu nhỏ, nếp sống cho vào từng chút, tay cuốn đều để tạo nên hình tam giác cân, hai đầu nhọn giống chiếc sừng trâu. Khi bánh đã vào dáng, người gói không buộc riêng từng chiếc mà áp hai chiếc bánh vào nhau rồi dùng dây rừng chẻ mỏng buộc cố định thành từng cặp. Vì cách buộc ấy, trong dân gian còn gọi bánh aquat là “bánh tình yêu”, bởi chiếc bánh nào cũng “có đôi, có cặp”, đi cùng nhau từ lúc gói cho đến khi chín mềm trên bếp lửa.
Bà Ta Dưr Tư, người nghiên cứu văn hóa dân gian, xã A Lưới 2, nhìn tôi làm bánh rồi chậm rãi chia sẻ: “Bánh aquat gắn liền với đời sống tinh thần của nhiều cộng đồng trên dãy Trường Sơn. Từ những lễ hội lớn đến ngày Tết, bánh luôn hiện diện như một món quà của núi rừng. Loại bánh này thường được ăn cùng những món đặc trưng của địa phương như cá nướng, gà nướng và nhiều món cá suối. Khi ăn kèm, vị bùi của nếp than và mùi thơm lá đót hòa quyện, tạo nên một bữa ăn trọn vẹn của người vùng cao”.
Quy trình làm aquat đòi hỏi sự kiên nhẫn. Nếp sau khi gói sống trong lá đót không đem luộc ngay mà phải ngâm trong nước trong khoảng 24 giờ. Khoảng thời gian ấy, người vùng cao vẫn gọi là lúc bánh “ngấm rừng”. Nước thấm dần vào từng hạt nếp, để khi luộc, bánh chín đều từ trong ra ngoài. Sau đó, bánh được luộc liên tục từ 3 đến 4 tiếng trên bếp củi. Người nấu nhìn màu lá đót chuyển sẫm để đoán bánh đã mềm hay chưa. Mỗi công đoạn đều dựa vào kinh nghiệm truyền lại qua nhiều thế hệ, ít khi cần đến đồng hồ hay công thức rành rọt.
Trong lúc chờ bánh chín, câu chuyện quanh bếp lửa cứ thế nối dài. Những cái Tết xưa, khi cả bản quây quần gói aquat, tiếng cười vang trong đêm lạnh. Chị Hồ Thị Thơm kể, cứ mỗi dịp Tết đến, bà con vùng cao lại ngồi sát bên nhau làm bánh aquat. Người lớn gói, trẻ con ngồi xem, học cách xếp lá, buộc dây. Những buổi như vậy vừa là dịp chuẩn bị thức ăn, vừa là lúc truyền dạy cho con cháu nếp sinh hoạt của bản làng.
Khi nồi bánh được vớt xuống, mùi thơm lan khắp gian nhà. Bóc lớp lá đót từ đầu nhọn, chiếc bánh lộ ra với màu tím sẫm đặc trưng của nếp than. Cắn một miếng, vị bùi lan dần, mùi lá rừng thoang thoảng. Tôi chợt nhận ra, cảm giác này khác hẳn những lần trước đây chỉ ăn bánh đã làm sẵn. Việc tự tay gói, chờ đợi, rồi thưởng thức khiến chiếc bánh trở nên gần gũi hơn.
Aquat không cầu kỳ, nhưng chứa đựng trong đó nhịp sống của núi rừng, sự gắn bó của con người với thiên nhiên.












