Từ cho 'cần câu' đến 'tạo năng lực': Kỳ vọng bứt phá cho kinh tế vùng cao

Bước vào kỷ nguyên mới, sự đồng hành của khoa học, công nghệ (KHCN) và hạ tầng số không dừng lại ở các chương trình hỗ trợ đơn lẻ. Đây chính là đòn bẩy chiến lược giúp chuyển dịch căn bản tư duy phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi (DTTS&MN): từ hỗ trợ an sinh thuần túy sang trang bị năng lực tự chủ làm giàu, mở ra kỳ vọng bứt phá toàn diện cho kinh tế - xã hội địa phương.

Vùng đồng bào dân tộc thiểu số rất cần được đầu tư hạ tầng số.

Vùng đồng bào dân tộc thiểu số rất cần được đầu tư hạ tầng số.

Dấu ấn một thập kỷ và bài toán chiều sâu công nghệ

Sau 10 năm thực hiện Quyết định số 1747/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình hỗ trợ ứng dụng, chuyển giao tiến bộ KHCN thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội nông thôn, miền núi, vùng DTTS (Chương trình NTMN) giai đoạn 2016-2025, diện mạo nhiều bản làng đã đổi thay sâu sắc. Với 551 dự án triển khai tại 34 tỉnh, thành phố, 1.426 mô hình ứng dụng được xây dựng và 2.354 quy trình kỹ thuật tiên tiến được chuyển giao, chương trình đã tạo xung lực mạnh mẽ cho sản xuất nông thôn.

Tại Hội thảo tổng kết Chương trình ngày 26/6, Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Lê Xuân Định khẳng định: “Thành công lớn nhất không chỉ nằm ở số lượng mô hình mà còn ở việc đưa khoa học và công nghệ đến gần hơn với người dân, doanh nghiệp và chính quyền cơ sở; biến tri thức thành năng suất, công nghệ thành sinh kế và đổi mới sáng tạo thành động lực phát triển địa phương”. Từ những vùng trồng dâu nuôi tằm, giống lúa thuần mới đến vùng chuyên canh cây ăn quả VietGAP, người dân đã dần chuyển đổi từ tập quán tự cung tự cấp sang sản xuất hàng hóa có liên kết bao tiêu.

Tuy vậy, khoảng cách công nghệ ở vùng cao vẫn là thách thức lớn. Khảo sát của Cục Đổi mới sáng tạo (Bộ KH&CN) tại 14 tỉnh Trung du và miền núi phía Bắc cho thấy: 44,3% cơ sở sản xuất vẫn vận hành thủ công, 52,1% ở mức bán tự động và vỏn vẹn 3,6% đạt tự động hóa. Rào cản công nghệ vì thế không đơn thuần là câu chuyện “có máy hay chưa có máy”, mà nằm ở chỗ thiết bị được đặt ở mắt xích nào và năng lực quản trị, vận hành của cơ sở địa phương đã đủ sức hấp thụ công nghệ hay chưa.

Công nghệ số có thể giúp người dân vùng cao nâng cao sản xuất trong nông, lâm nghiệp. Ảnh: OCOP Việt Nam

Công nghệ số có thể giúp người dân vùng cao nâng cao sản xuất trong nông, lâm nghiệp. Ảnh: OCOP Việt Nam

Hạ tầng số và tri thức: Bình đẳng hóa cơ hội phát triển

Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị xác định KHCN, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là đột phá hàng đầu, lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm. Nếu tiến bộ kỹ thuật nâng cao giá trị nương rẫy, thì hạ tầng viễn thông và chuyển đổi số chính là đôi cánh xóa nhòa ranh giới địa lý, mang tri thức đến tận thôn bản.

Tại Thái Nguyên, năm 2025 tỉnh ghi nhận 5.884 trạm BTS, phủ sóng di động 99,5% thôn bản; 156 trạm 5G đang hoạt động phủ sóng 28% dân số, cùng hơn 357.000 thuê bao cáp quang và 1,6 triệu thuê bao Internet di động.

Cùng với đó, 100% xã, phường có điểm bưu chính và cổng thông tin điện tử; ứng dụng C-ThaiNguyen đạt gần 500.000 lượt tải, xử lý hơn 5.000 phản ánh hiện trường. Nền tảng số vững chắc này giúp bà con DTTS dễ dàng tra cứu kỹ thuật, học tập trực tuyến và giải quyết thủ tục hành chính ngay tại nhà mà không phải lội suối, vượt đèo.

Ở Tây Nguyên, Đắk Lắk cụ thể hóa Kế hoạch chuyển đổi số giai đoạn 2026 - 2030 với mục tiêu xây dựng xã hội số bao trùm: đến năm 2030, phủ sóng 5G tới 99% dân số, 70% người trưởng thành có chữ ký số cá nhân và 95% người dân từ 15 tuổi trở lên có tài khoản ngân hàng.

Điểm nhấn là Kế hoạch số 406/KH-UBND thí điểm 4 mô hình mẫu trong phong trào “Bình dân học vụ số” năm 2026 (gồm: Công dân số tiêu biểu, Thôn/buôn số tiêu biểu, Nông thôn số - Làm giàu từ công nghệ và Thôn/buôn số vùng đồng bào DTTS).

Đồng thời, thực hiện phương châm “đi từng ngõ, gõ từng nhà, hướng dẫn từng người” theo nguyên tắc “6 rõ”, các lực lượng cơ sở phối hợp với già làng, trưởng buôn dùng video, hình ảnh và tiếng dân tộc hướng dẫn bà con dùng VNeID, app “Đắk Lắk Số”, tạo chữ ký số và phòng tránh lừa đảo mạng.

Đặc biệt, khi người dân được trao quyền và bồi dưỡng kỹ năng số thực chất, công nghệ lập tức biến thành sinh kế sống động, trong đó là chuẩn hóa chuỗi giá trị và thương mại điện tử: Hàng trăm sản phẩm OCOP từ 3 sao trở lên của các tỉnh miền núi đã tự tin bước lên Shopee, Tiki, Lazada. Sự kết hợp giữa các quy chuẩn VietGAP, hữu cơ, HACCP, ISO cùng công nghệ tem QR code truy xuất nguồn gốc và nhật ký điện tử giúp nông sản vùng cao thoát khỏi bẫy ép giá thương lái, nâng cao giá trị gia tăng trực tiếp cho bà con.

Người dân vùng cao nay đã chủ động trở thành người sáng tạo nội dung. Điển hình tại xã Lâm Bình, người dân duy trì thường xuyên khoảng 65 kênh trên YouTube, Facebook, TikTok. Các video mộc mạc ghi lại nhịp sống lao động, ẩm thực truyền thống Tày, Dao, Mông và cảnh sắc thiên nhiên kỳ vĩ đã thu hút đông đảo du khách, mở ra mô hình du lịch sinh thái cộng đồng tạo thu nhập ổn định tại chỗ.

Đồng bào dân tộc thiểu số sử dụng các ứng dụng trên điện thoại thông minh. Ảnh: Bộ KH&CN

Đồng bào dân tộc thiểu số sử dụng các ứng dụng trên điện thoại thông minh. Ảnh: Bộ KH&CN

Giải pháp đồng bộ cho kỳ vọng bứt phá

Thực tiễn từ Thái Nguyên, Đắk Lắk đến các bản làng vùng cao cho thấy, đồng bào DTTS hoàn toàn có thể làm chủ công nghệ nếu được trang bị hạ tầng đồng bộ và phương pháp tiếp cận phù hợp. Để KHCN thực sự là đòn bẩy bứt phá trong kỷ nguyên mới, cần tập trung vào các giải pháp trọng tâm:

Lấy hợp tác xã, doanh nghiệp địa phương làm hạt nhân: Xây dựng các mô hình trình diễn ngay tại vùng sản xuất với quy mô hợp lý. Hiệu quả kinh tế phải được lượng hóa cụ thể về năng suất, tỷ lệ hao hụt, giá bán và thu nhập thực tế trước khi chuẩn hóa quy trình để chuyển giao nhân rộng.

Đầu tư trọn vẹn chuỗi giá trị: Chuyển giao công nghệ đồng bộ từ khâu chọn tạo giống thích ứng biến đổi khí hậu, canh tác an toàn, cơ giới hóa bảo quản sau thu hoạch, chế biến sâu gắn với bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ và thương hiệu bản địa.

Phát triển nguồn nhân lực số tại chỗ: Ưu tiên bố trí kinh phí sự nghiệp KHCN hàng năm, thu hút và đào tạo chính con em đồng bào DTTS trở thành lực lượng nòng cốt. Phát huy tối đa vai trò của Tổ công nghệ số cộng đồng để bảo đảm tính bền vững lâu dài sau khi các dự án kết thúc.

Khoa học, công nghệ và chuyển đổi số đang mở toang cánh cửa hội nhập cho vùng cao. Bằng việc chuyển dịch dứt khoát từ tư duy “cho cần câu” sang “tạo năng lực tự chủ”, vùng đồng bào DTTS&MN hoàn toàn có đủ điểm tựa để vươn lên thoát nghèo bền vững, làm giàu và khẳng định vị thế trên chính quê hương mình.

Quốc Trần

Nguồn Công Luận: https://congluan.vn/tu-cho-can-cau-den-tao-nang-luc-ky-vong-but-pha-cho-kinh-te-vung-cao-post364014.html