Nông dân làm nông nghiệp hữu cơ, chinh phục thị trường bằng chất lượng
Từ vườn nho ở Vu Gia đến rau hữu cơ tại Tam Xuân, nông dân Đà Nẵng đang tạo đầu ra cho nông sản sạch bằng quy trình canh tác minh bạch.

Các mô hình sản xuất hữu cơ gắn với quy trình canh tác bền vững và liên kết tiêu thụ đang tạo động lực phát triển nông nghiệp tại địa phương.
Không chỉ thay đổi cách canh tác để hạn chế hóa chất, nhiều nông dân tại Đà Nẵng đang tìm cách đưa nông nghiệp hữu cơ trở thành hướng sản xuất có giá trị kinh tế lâu dài. Từ những vườn nho trên đất bãi bồi đến mô hình rau đạt chứng nhận hữu cơ và trang trại sản xuất tuần hoàn, điểm chung của các mô hình là chú trọng chất lượng nông sản, kiểm soát quy trình và từng bước xây dựng đầu ra ổn định.
Tại thôn Lâm Yên, xã Vu Gia, gia đình bà Võ Thị Xem đã mất nhiều năm cải tạo đất bãi bồi trước khi vườn nho cho những chùm quả đầu tiên. Thay vì phụ thuộc vào phân bón hóa học, gia đình sử dụng trấu, rơm rạ và phân sinh học để cải thiện đất, đồng thời tận dụng bã mía, mùn cưa, chuối chín để ủ quanh gốc. Hệ thống tưới tự động được đầu tư nhằm chủ động nguồn nước, giảm công chăm sóc và duy trì điều kiện sinh trưởng cho cây trồng.
Giá trị của vườn nho không chỉ nằm ở sản lượng thu hoạch mà còn thể hiện qua cách người trồng tiếp cận thị trường. Theo bà Xem, khi nho vào vụ, nhiều khách hàng tìm đến tận vườn mua hoặc đặt hàng với số lượng lớn. Sự tin tưởng của người tiêu dùng tạo động lực để gia đình tiếp tục mở rộng diện tích, bổ sung các giống nho sữa Hàn Quốc và nho mẫu đơn nhằm đa dạng hóa sản phẩm.
Từ kinh nghiệm của một hộ sản xuất, câu chuyện tại Vu Gia cũng cho thấy một yêu cầu ngày càng rõ đối với nông nghiệp sạch: Phương thức canh tác phải đi cùng khả năng chứng minh chất lượng. Đây là hướng đi mà Hợp tác xã Nông nghiệp Đại Minh, với mô hình Vu Gia Organic Farm, đang theo đuổi trên diện tích thí điểm 1,1ha.

Nông nghiệp hữu cơ tại Đà Nẵng mở ra hướng phát triển nông sản sạch, nâng cao giá trị kinh tế và xây dựng niềm tin với người tiêu dùng.
Hợp tác xã kết hợp công nghệ vi sinh, quản lý sức khỏe cây trồng tổng hợp (IPHM) và hệ thống tưới thông minh để kiểm soát quá trình sản xuất. Đáng chú ý, đơn vị cho biết 100% sản lượng rau thu hoạch không phát hiện dư lượng của 5 hoạt chất hóa học độc hại theo phạm vi kiểm tra được công bố. Kết quả này góp phần củng cố cơ sở để hợp tác xã phát triển sản phẩm theo định hướng hữu cơ.
Mới đây, rau mồng tơi và rau dền đỏ của hợp tác xã được cấp chứng nhận tiêu chuẩn hữu cơ Đông Nam Á bởi Hiệp hội AATSEA và Quỹ Earthsafe của Thái Lan. Với ông Ngô Văn Phi, Giám đốc hợp tác xã, đây không chỉ là sự ghi nhận đối với quá trình sản xuất mà còn mở ra cơ hội đưa nông sản đến những thị trường có yêu cầu cao hơn.
Nếu Vu Gia cho thấy vai trò của chất lượng và chứng nhận trong việc tạo dựng niềm tin, mô hình tại xã Tam Xuân lại nhấn mạnh hiệu quả của tổ chức sản xuất. Hợp tác xã Nông nghiệp hữu cơ Nông trại xanh phát triển trên quy mô gần 3ha, vận hành theo quy trình tuần hoàn nhằm tận dụng tối đa nguồn nguyên liệu sẵn có.
Trong mô hình này, trùn quế được nuôi để tạo phân bón cho rau; phế phẩm nông nghiệp tiếp tục được sử dụng làm nguồn thức ăn cho gia cầm, còn chất thải chăn nuôi được đưa trở lại quy trình nuôi trùn. Cách tổ chức sản xuất giúp tận dụng phụ phẩm, giảm lãng phí tài nguyên và hình thành mối liên kết giữa các khâu trồng trọt, chăn nuôi.
Đáng chú ý, sản phẩm của hợp tác xã đã có đầu ra tại các chuỗi thực phẩm sạch và hệ thống trường học ở Tam Kỳ, Đà Nẵng. Việc duy trì được những kênh tiêu thụ cụ thể cho thấy sản xuất hữu cơ không thể chỉ dừng ở khâu tạo ra nông sản sạch, mà còn cần đáp ứng nhu cầu thực tế của người mua về chất lượng, nguồn cung và tính ổn định.
Từ ba mô hình với những cách tiếp cận khác nhau, nông nghiệp hữu cơ tại Đà Nẵng đang dần gắn với bài toán thị trường thay vì chỉ dừng ở thay đổi kỹ thuật canh tác. Người trồng nho dựa vào niềm tin của khách hàng, hợp tác xã ở Vu Gia từng bước khẳng định sản phẩm bằng chứng nhận, còn Nông trại xanh chú trọng tuần hoàn và tổ chức đầu ra. Mỗi hướng đi đều đặt ra yêu cầu về tính nhất quán trong sản xuất và khả năng duy trì chất lượng qua từng vụ.
Để các mô hình phát triển bền vững, việc mở rộng quy mô cần đi cùng kiểm soát quy trình, minh bạch thông tin sản phẩm và liên kết tiêu thụ lâu dài. Khi người sản xuất không chỉ bán nông sản mà còn tạo được căn cứ để người mua nhận biết, kiểm chứng chất lượng, nông nghiệp hữu cơ mới có cơ hội xây dựng thương hiệu và nâng cao giá trị trên thị trường.

