Từ giảng đường đến cánh đồng: Khoảng cách nghìn tỉ của khoa học nông nghiệp Việt
Trong kỷ nguyên kinh tế tri thức, nông nghiệp thông minh không còn nằm ở diện tích đất đai hay sức người thô sơ, mà nằm ở hàm lượng chất xám trong từng hạt giống, quy trình.
Nông nghiệp thông minh và những dấu ấn công nghệ
Với ngành nông nghiệp Việt Nam, các viện nghiên cứu và trường đại học đang nắm giữ "kho báu" công nghệ khổng lồ, nhưng làm sao để kho báu ấy không bị "ngủ quên" trong ngăn kéo mà trở thành động lực cho những cánh đồng nghìn tỉ?
Trong dòng chảy đó, khối các Viện nghiên cứu (như VAAS, Viện Lúa ĐBSCL) và các Trường đại học (Học viện Nông nghiệp Việt Nam, ĐH Cần Thơ, ĐH Bách khoa...) đang đóng vai trò là những "trung tâm tổng hành dinh" về công nghệ.
Thực tế cho thấy, những năm qua, dấu ấn của các nhà khoa học trong nước đã hằn rõ trên bản đồ nông sản thế giới. Việt Nam không chỉ tiếp nhận công nghệ từ Israel hay Nhật Bản, mà đã bắt đầu tự chủ trong những lĩnh vực cốt lõi.
Trong lĩnh vực công nghệ sinh học, các nhà khoa học đã ứng dụng chỉ thị phân tử và chỉnh sửa gen để rút ngắn thời gian chọn tạo giống từ 10 năm xuống còn 3-5 năm.

Nông nghiệp thông minh sẽ thể hiện ở hàm lượng chất xám trong từng hạt giống, quy trình.
Những giống lúa chịu mặn vượt ngưỡng 4‰ hay các dòng ngô kháng sâu keo mùa thu là minh chứng sống động cho khả năng đáp ứng tức thời của khoa học trước biến đổi khí hậu.
Không dừng lại ở sinh học, làn sóng nông nghiệp số đang thổi một luồng gió mới vào các giảng đường.
Sự giao thoa giữa ngành nông học và công nghệ thông tin đã tạo ra những hệ thống điều hành canh tác tự động, nơi AI (trí tuệ nhân tạo) bắt đầu "đọc" được nhu cầu dinh dưỡng của cây qua màu lá, và Drone không chỉ để phun thuốc mà còn trở thành "mắt thần" quản trị rủi ro trên diện rộng.
Những giải pháp này không còn là mô hình trình diễn mà đã bắt đầu len lỏi vào các hợp tác xã kiểu mới và các trang trại của doanh nghiệp lớn.
PGS.TS Nguyễn Phi Lê - giảng viên tại Trường Công nghệ thông tin và truyền thông, Đại học Bách Khoa Hà Nội, và đảm nhận vị trí điều hành Viện nghiên cứu và ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI4LIFE) - cho biết hầu hết các nghiên cứu hiện nay ở các viện, trường chỉ dừng lại ở mức độ thử nghiệm.
Nếu muốn dự án nghiên cứu đi vào cuộc sống và triển khai diện rộng thì cần phải có bước tiến nữa, bởi vì từ phòng thí nghiệm ra thực tế là cả một quãng đường dài, cần sự đầu tư rất nhiều.
Hiện nay, đầu tư cho nghiên cứu khoa học nói chung còn rất nhỏ giọt, chỉ dừng lại ở bước thử nghiệm, sau đó thì rất là khó để tìm kiếm được nguồn hỗ trợ để đưa dự án nghiên cứu ra thực tế.
"Cho nên, phần lớn dự án nghiên cứu mà nhóm tôi thực hiện mới chỉ dừng lại ở bước thử nghiệm ban đầu. Mặc dù chúng tôi thấy rõ được tính hiệu quả của những dự án đó, ví dụ như dự án canh tác lúa giảm thải carbon, chúng tôi đã thử nghiệm một vụ ở xã Hoằng Hóa và xã Hà Trung (tỉnh Thanh Hóa).
Theo kết quả thì lượng phát thải khí nhà kính giảm được 30%, năng suất lúa tăng lên, lượng nước tưới tiêu giảm đi, tăng lợi nhuận cho nông dân nhưng kết quả đấy cũng chỉ giới hạn trong vùng mình thử nghiệm, còn muốn triển khai diện rộng thì cần đầu tư nhiều hơn để mua thêm thiết bị", vị chuyên gia này cho hay.
Thay vì những lý thuyết xa rời, PGS.TS Nguyễn Minh Tân - Giám đốc Viện Nghiên cứu và Phát triển Ứng dụng các Hợp chất Thiên nhiên (Đại học Bách khoa Hà Nội) - lại chọn một lối đi thực tiễn: "Hành nghề" để giải quyết nỗi đau của nông nghiệp Việt.
Từ công nghệ màng, cô đặc tại nhiệt độ thấp và áp suất thường đến những mô hình sản xuất thông minh di động, vị chuyên gia này đang nỗ lực biến những "kho báu" thiên nhiên thành giá trị kinh tế bền vững.
Công nghệ cốt lõi của nữ phó giáo sư và nhóm nghiên cứu là tập trung vào việc bốc hơi/cô đặc các dịch mẫn cảm nhiệt (như mật ong, dịch chiết thảo dược, nước trái cây, enzyme) tại nhiệt độ thấp và áp suất thường.
Công nghệ JEVA của nhóm đi theo một hướng hoàn toàn khác. Quá trình bay hơi được thực hiện tại nhiệt độ thấp và áp suất thường, thực hiện quá trình ở nhiệt độ dưới 45 độ C và áp suất khí quyển bình thường.
"Đây là điều mà tôi tự tin rằng Việt Nam có thể đứng ngang hàng, thậm chí đi trước một bước trong việc chế biến sâu nông sản trong khi vẫn giữ được hương vị thiên nhiên", PGS.TS Nguyễn Minh Tân cho hay.
Khoa học là để giải thích thế giới. Công nghệ là sự kết hợp các kiến thức khoa học để biến đổi nguồn lực (nguyên liệu, năng lượng, thông tin…) thành sản phẩm, dịch vụ phục vụ xã hội (nhưng nó vẫn có thể chỉ nằm trong đầu hoặc trên giấy). Kỹ thuật là biến cái "không nhìn thấy" thành sản phẩm "sờ thấy được".
Theo vị chuyên gia này, Việt Nam không thiếu những bộ não thông minh để làm khoa học, nhưng lại thiếu rất nhiều người làm kỹ thuật có bản lĩnh có thể triển khai công nghệ mới trên giấy thành hệ thống sản xuất ra các sản phẩm trong thực tế.
Rào cản của nông nghiệp thông minh
Theo các chuyên gia, dù sở hữu số lượng bằng sáng chế và giải pháp hữu ích tăng trưởng ấn tượng hàng năm, nhưng một thực trạng nhức nhối vẫn tồn tại: Khoảng cách từ phòng thí nghiệm đến cánh đồng vẫn là một "đại lộ" đầy rẫy rào cản.
Rào cản đầu tiên nằm ở cơ chế tự chủ và định giá tài sản trí tuệ. Nhiều công trình nghiên cứu được đầu tư bằng ngân sách Nhà nước hiện nay vẫn vướng cơ chế quản lý tài sản công.
Việc định giá một giống cây trồng hay một quy trình công nghệ để chuyển giao cho doanh nghiệp thường mất rất nhiều thời gian và thủ tục hành chính rườm rà.
Hệ quả là khi công nghệ được phép ra thị trường, tính thời điểm đã mất đi, và doanh nghiệp có xu hướng tìm đến các giải pháp ngoại nhập nhanh gọn hơn.

Giá trị thực sự của khoa học phải được đo bằng sự sung túc của người nông dân và vị thế của nông sản Việt trên kệ hàng quốc tế.
Thứ hai, là sự đứt gãy trong mối liên kết giữa nhà khoa học và thị trường. Nhà khoa học Việt Nam rất giỏi về chuyên môn nhưng thường thiếu "nhãn quan kinh tế".
Một công nghệ hoàn hảo trong phòng thí nghiệm đôi khi thất bại thảm hại khi ra sản xuất đại trà do chi phí vận hành quá cao hoặc không tương thích với thói quen canh tác của nông dân.
Chúng ta đang thiếu những tổ chức trung gian, những sàn giao dịch công nghệ đúng nghĩa để đóng vai trò "người môi giới" chuyên nghiệp, giúp gọt giũa các sản phẩm nghiên cứu trở nên "vừa vặn" với túi tiền và nhu cầu của thị trường.
Vì vậy, để thực sự khơi thông dòng chảy KH-CN, các chuyên gia cho rằng cần một cuộc cách mạng trong tư duy quản lý và đào tạo.
Cởi trói bằng pháp lý: Cần sớm hoàn thiện các văn bản hướng dẫn về Luật quản lý tài sản công theo hướng thông thoáng, cho phép các đơn vị sự nghiệp khoa học tự chủ hoàn toàn trong việc định giá và góp vốn bằng kết quả nghiên cứu.
Cần có cơ chế chấp nhận rủi ro trong nghiên cứu khoa học, bởi không phải 100 đề tài đều có thể thành công rực rỡ ngoài thực tế.
Đầu tư trọng điểm vào hạ tầng số: Nhà nước cần đầu tư vào các "Phòng thí nghiệm mở" dùng chung cho cả viện, trường và doanh nghiệp. Đây sẽ là nơi thử nghiệm các công nghệ 4.0 trước khi đưa ra thị trường, giúp giảm thiểu rủi ro cho cả hai bên.
Đào tạo thế hệ "nông dân tri thức": Trường đại học không chỉ dạy kỹ thuật canh tác, mà phải đào tạo ra những quản trị viên nông nghiệp biết sử dụng dữ liệu, hiểu về thị trường và thành thạo công nghệ số. Đây chính là lực lượng sẽ hấp thụ công nghệ từ các viện nghiên cứu một cách hiệu quả nhất.
Việc thúc đẩy ứng dụng KH-CN tại các Viện, Trường không đơn thuần là nhiệm vụ kinh tế, mà là sứ mệnh quốc gia. Khi những nút thắt về cơ chế được tháo gỡ, khi nhà khoa học và doanh nghiệp tìm thấy tiếng nói chung, tri thức sẽ không còn nằm yên trên trang giấy.
Nó sẽ hóa thành sức mạnh trên cánh đồng, biến nông nghiệp Việt Nam trở thành một hình mẫu về sự thích ứng và thịnh vượng dựa trên nền tảng khoa học.











