Từ hoài nghi đến nhân rộng: HTX thu lãi gấp 6 lần nhờ mô hình lúa giảm phát thải
Chỉ một vụ lúa, nhiều hợp tác xã ở Hải Phòng, Hưng Yên và Ninh Bình đã chứng kiến năng suất tăng tới 30%, chi phí giảm hơn 25%, và lợi nhuận vượt bậc so với canh tác truyền thống. Đằng sau những con số đó là câu chuyện về việc thay đổi tập quán canh tác và kết quả tự nói lên tất cả.
Ngày 10/6, Hội nghị Sơ kết Mô hình canh tác lúa sử dụng phân bón đúng, hiệu quả cao và phát thải thấp vùng đồng bằng sông Hồng được tổ chức bởi Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) phối hợp với Viện Nghiên cứu Lúa Quốc tế (IRRI) đã công bố kết quả vụ lúa Đông Xuân 2026 tại 4 mô hình thí điểm thuộc 3 tỉnh.

Mô hình lúa phát thải thấp tại Hợp tác xã Hữu Chung, xã Tân An (TP Hải Phòng).
Kết quả ở cả 3 Tỉnh Hưng Yên, Ninh Bình và Hải Phòng áp dụng công nghệ sạ hàng hiệu ứng hàng biên kết hợp vùi phân và phân bón cải tiến cho kết quả đều vượt kế hoạch đề ra.
Những con số biết nói
Tại HTX Liên Hiệp (Hưng Yên), năng suất đạt 6,49 tấn/ha, tăng 30% so với phương thức sạ lan cùng giống. Đáng chú ý, nếu canh tác theo phương pháp truyền thống gần như không mang lại lợi nhuận thì mô hình mới đã giúp nông dân thu lãi 19,2 triệu đồng/ha.
Tại HTX Nam Cường (Ninh Bình), năng suất đạt 5,65 tấn/ha, tăng 28% . Không chỉ nâng lợi nhuận lên 13,2 triệu đồng/ha, mô hình còn giúp người dân chuyển từ mức lỗ 3,1 triệu đồng/ha sang có lãi, tạo ra chênh lệch hiệu quả kinh tế thực tế hơn 16 triệu đồng/ha.
Ấn tượng nhất là kết quả tại HTX Hữu Chung (Hải Phòng), nơi năng suất đạt 7,62 tấn/ha, tăng 25% so với phương thức cấy máy cùng giống. Lợi nhuận đạt 24,4 triệu đồng/ha, cao gấp hơn 6 lần so với mô hình cấy máy truyền thống, trở thành đơn vị có mức tăng lợi nhuận tuyệt đối lớn nhất trong số các mô hình được triển khai.
Một trong những câu hỏi được nông dân đặt ra nhiều nhất là vì sao ruộng gieo thưa lại cho năng suất cao hơn. Đây cũng chính là rào cản tâm lý lớn nhất khi triển khai mô hình. Tại Ninh Bình, một trong những vựa lúa lớn của đồng bằng sông Hồng, tập quán gieo dày từ lâu được xem là cách làm "ăn chắc". Mỗi sào ruộng thường sử dụng tới 2,5 - 3 kg giống, ruộng càng xanh rậm thì người dân càng yên tâm về năng suất.
Tuy nhiên, mô hình mới chỉ sử dụng 1,2 - 1,5 kg giống mỗi sào, tức giảm gần một nửa lượng giống nhưng kết quả thu được lại khả quan hơn. Theo ông Nguyễn Văn Các, xã Yên Cường (Ninh Bình), chỉ cần quan sát bằng mắt thường cũng có thể nhận thấy sự khác biệt. Ruộng gieo tay theo phương pháp truyền thống có màu xanh dày hơn, số lượng bông nhiều hơn nhưng bông ngắn, hạt thưa và cây mềm. Trong khi đó, ruộng gieo máy tuy thưa hơn nhưng bông dài, hạt chắc và chất lượng tốt hơn. Ông cho biết: "Nếu đem so sánh trực tiếp thì ba bông lúa của ruộng gieo tay mới tương đương hai bông của ruộng gieo máy".
Minh chứng tốt nhất là từ chính đồng ruộng
Hiệu quả này đến từ công nghệ mDSR, tức sạ hàng theo hiệu ứng hàng biên kết hợp vùi phân. Thay vì gieo dày để bù đắp nguy cơ thiếu cây như tập quán cũ, mDSR tạo khoảng cách hợp lý giữa các hàng lúa, giúp mỗi cây có đủ ánh sáng, không gian sinh trưởng và khả năng hấp thụ dinh dưỡng tốt hơn. Đồng thời, phân bón được vùi trực tiếp xuống đất thay vì rải trên bề mặt, nhờ đó nâng cao hiệu quả sử dụng phân bón, giảm thất thoát và giảm lượng phân sử dụng mà vẫn duy trì năng suất.
Điều quan trọng hơn cả là những kết quả này được chứng minh ngay trên chính đồng ruộng của người dân. Chia sẻ với VnBusiness, ông Nguyễn Văn Khiên, Giám đốc HTX Hữu Chung, cho biết: "Từ khi thấy máy sạ một buổi sáng bằng cả tuần cấy tay, thấy lúa lên đều hàng đều lối, cuối vụ chi phí giảm mà năng suất lại vượt trội, tôi không cần thuyết phục bà con nữa, họ tự hỏi nhau vụ sau có làm tiếp không?"

Ông Nguyễn Văn Khiên – Giám đốc HTX Hữu Chung bên cánh đồng lúa canh tác theo Mô hình lúa sử dụng phân bón đúng, hiệu quả cao và phát thải thấp.
Theo bà Lương Thị Kiểm, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Hải Phòng, giá trị lớn nhất của mô hình không chỉ nằm ở các chỉ tiêu kỹ thuật hay mức tăng năng suất mà còn ở sự thay đổi tư duy sản xuất của người nông dân. Việc thuyết phục họ thay đổi tập quán canh tác lâu năm đòi hỏi minh chứng cụ thể từ chính đồng ruộng của họ và vụ lúa này đã làm được điều đó.
Từ thói quen bón phân theo kinh nghiệm, bà con chuyển sang thực hiện nguyên tắc "4 đúng" gồm đúng loại, đúng lượng, đúng thời điểm và đúng phương pháp. Từ mục tiêu tăng sản lượng bằng mọi giá, chuyển sang tối ưu hiệu quả kinh tế trên từng đơn vị diện tích. Từ sản xuất riêng lẻ, hướng tới sản xuất có trách nhiệm với môi trường.
3 mô hình này không đơn thuần là thí nghiệm kỹ thuật. Chúng là một phần trong Đề án "Sản xuất giảm phát thải lĩnh vực trồng trọt giai đoạn 2025–2035, tầm nhìn đến năm 2050", lộ trình hiện thực hóa cam kết khí hậu của Việt Nam với cộng đồng quốc tế.
TS. Jongsoo Shin, Giám đốc Khu vực châu Á của IRRI kỳ vọng 3 mô hình này sẽ tạo đủ cơ sở khoa học và thực tiễn để các địa phương tự tin nhân rộng. Theo ông, mỗi héc-ta được nhân rộng là một đóng góp thiết thực vào mục tiêu giảm phát thải ngành lúa gạo và nâng cao thu nhập cho nông dân.
Ông Ralph Bean, Tham tán Nông nghiệp, Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Việt Nam đánh giá đây là ví dụ cụ thể cho cách khoa học và chính sách có thể cùng chuyển hóa thành lợi ích thiết thực. Dự án Fertilize Right được xây dựng trên nguyên tắc giải pháp hiệu quả nhất phải được kiểm chứng trong điều kiện của chính địa phương đó.
Điều đáng nói là ngoài câu chuyện giảm phát thải, mô hình này còn thử nghiệm một cách tổ chức sản xuất đồng bộ hơn. Thay vì mỗi hộ làm một kiểu, từng thửa ruộng được vận hành theo cùng lịch gieo, cùng máy móc, cùng quy trình nước tưới và phân bón. Đó là điều mà nông nghiệp miền Bắc đang cần.











