Từ hợp tác với Nga, Pháp đến khát vọng làm chủ công nghệ của Việt Nam
GS.TS Trần Hồng Thái chia sẻ cách nhìn nhận về quan hệ hợp tác khoa học, công nghệ giữa Việt Nam với hai đối tác có nhiều thế mạnh là Liên bang Nga và Cộng hòa Pháp.
Từ những chương trình nghiên cứu khoa học có lịch sử hàng chục năm với Liên bang Nga đến dự án vệ tinh VNREDSat-1 và mô hình Đại học Việt - Pháp, hợp tác quốc tế đang góp phần quan trọng vào quá trình hình thành tiềm lực khoa học và công nghệ của Việt Nam.
Nhưng theo GS.TS Trần Hồng Thái - Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, yêu cầu của giai đoạn mới đã cao hơn: hợp tác không chỉ để tiếp nhận công nghệ mà phải giúp Việt Nam từng bước hình thành năng lực làm chủ và tiếp tục phát triển công nghệ.

Ông Trần Hồng Thái
Hợp tác Việt - Nga: Nền tảng được tích lũy qua nhiều thế hệ
Nhìn lại quan hệ khoa học giữa Việt Nam với Liên Xô trước đây và Liên bang Nga ngày nay, GS.TS Trần Hồng Thái đánh giá: “Điều có ý nghĩa nhất là Liên Xô trước đây và Liên bang Nga ngày nay đã có sự đóng góp rất to lớn vào quá trình xây dựng đội ngũ khoa học Việt Nam, hình thành năng lực nghiên cứu trong hầu hết các lĩnh vực khoa học và công nghệ nền tảng của Việt Nam”.
Theo ông Thái, trong những giai đoạn đầu, phía Nga hỗ trợ Việt Nam đào tạo cán bộ, phát triển phòng thí nghiệm và nghiên cứu trong nhiều lĩnh vực như toán học, cơ học, vật liệu, hóa học, khoa học trái đất, sinh học, công nghệ sinh học và khoa học biển.
Một ví dụ tiêu biểu là hợp tác nghiên cứu biển. Từ năm 2005-2025, hai bên đã thực hiện 9 chuyến khảo sát chung bằng tàu nghiên cứu “Viện sĩ Oparin” trên vùng biển Việt Nam. Từ những chuyến khảo sát này đã hình thành các nhóm nghiên cứu chung về đa dạng sinh học, sinh thái, vi sinh vật biển, hợp chất thiên nhiên và môi trường. Hai bên đồng thời trao đổi cán bộ, chia sẻ dữ liệu, công bố khoa học và đào tạo, thống nhất tiếp tục hợp tác nghiên cứu biển giai đoạn 2026-2035.
Hợp tác tại Viện Liên hiệp Nghiên cứu hạt nhân JINR ở Dubna cũng góp phần đào tạo nhiều thế hệ nhà khoa học Việt Nam. Hiện có gần 50 cán bộ Việt Nam làm việc tại JINR trong các lĩnh vực, từ vật lý hạt nhân, neutron, vật liệu bền bức xạ đến y học hạt nhân và thiết kế máy gia tốc.

Đoàn công tác của Bộ Khoa học và Công nghệ thăm các cơ sở phòng thí nghiệm nổi bật của JINR. Ảnh: Trung tâm Truyền thông khoa học và công nghệ, Bộ Khoa học và Công nghệ.
“Đối với chúng tôi, giá trị lâu dài nhất của hợp tác Việt - Nga chính là năng lực khoa học được tích lũy và tiếp nối qua nhiều thế hệ, để từ nền tảng hợp tác quốc tế, Việt Nam từng bước hình thành năng lực nghiên cứu và công nghệ của chính mình” - ông Thái nhấn mạnh.
Từ tiếp nhận sang đồng phát triển công nghệ
Trong giai đoạn mới, hợp tác Việt - Nga đang đứng trước yêu cầu chuyển từ hỗ trợ và trao đổi khoa học truyền thống sang cùng nghiên cứu và phát triển những công nghệ chiến lược.
Theo GS.TS Trần Hồng Thái, “tự chủ khoa học và công nghệ không có nghĩa là tự mình làm tất cả”. Tự chủ phải được hiểu là khả năng hiểu công nghệ, làm chủ nguyên lý và thiết kế, tích hợp hệ thống, vận hành, bảo trì, cải tiến công nghệ và đào tạo được thế hệ chuyên gia tiếp theo.
Từ cách tiếp cận đó, hợp tác với Nga có thể tập trung vào những lĩnh vực Nga có thế mạnh và Việt Nam có nhu cầu chiến lược như vật lý hạt nhân, năng lượng nguyên tử, hydrogen, lưu trữ năng lượng, công nghệ lượng tử, công nghệ vũ trụ, vệ tinh nhỏ, viễn thám, UAV và vật liệu tiên tiến.
Mô hình hợp tác cũng cần thay đổi. Ông Thái cho rằng cần chuyển mạnh từ “trao đổi cán bộ - hội thảo khoa học - đề tài nghiên cứu” sang đồng phát triển công nghệ, trong đó xây dựng các phòng thí nghiệm và nhóm nghiên cứu chung tại Việt Nam, triển khai chương trình đồng tài trợ dài hạn, đào tạo chuyên gia nòng cốt và đưa doanh nghiệp tham gia từ giai đoạn nghiên cứu và phát triển.
Ông nhấn mạnh: “Mục tiêu cuối cùng của chuyển giao công nghệ phải là chuyển giao năng lực làm chủ công nghệ”. Nếu sau một dự án, Việt Nam chỉ có thêm thiết bị nhưng không có đội ngũ đủ khả năng hiểu, sửa đổi và phát triển thế hệ công nghệ tiếp theo thì chưa thể coi đó là thành công đầy đủ.
Việt Nam - Pháp: VNREDSat-1 và khát vọng làm chủ công nghệ vệ tinh
Nếu hợp tác với Nga thể hiện chiều sâu của quá trình tích lũy khoa học qua nhiều thế hệ thì hợp tác với Pháp, đặc biệt trong lĩnh vực công nghệ vũ trụ, cho thấy rõ quá trình chuyển từ tiếp nhận sang từng bước làm chủ công nghệ.

Hình mô phỏng vệ tinh VNRESat-1 hoạt động trên quỹ đạo.
VNREDSat-1 được phóng thành công ngày 7/5/2013 và bàn giao cho Việt Nam vận hành, khai thác từ tháng 9/2013. Đến năm 2026, vệ tinh bước sang năm hoạt động thứ 14, trong khi tuổi thọ thiết kế ban đầu chỉ là 5 năm.
Theo GS.TS Trần Hồng Thái, “VNREDSat-1 cần được nhìn nhận không chỉ như một vệ tinh quan sát trái đất đầu tiên của Việt Nam, mà quan trọng hơn là một chương trình xây dựng năng lực quốc gia về công nghệ vệ tinh”.
Tuy nhiên, Chủ tịch Viện Hàn lâm cũng lưu ý rằng tự chủ vận hành VNREDSat-1 chưa đồng nghĩa Việt Nam đã làm chủ toàn bộ công nghệ thiết kế và chế tạo vệ tinh. Những năng lực về thiết kế hệ thống, tải hữu ích, điện tử vệ tinh, phần mềm bay, tích hợp - lắp ráp - kiểm thử và trạm mặt đất vẫn cần tiếp tục được phát triển.
Trong chuyến thăm cấp Nhà nước của Tổng thống Emmanuel Macron tới Việt Nam tháng 5/2025, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Airbus Defence and Space và Cơ quan Vũ trụ Pháp (CNES) đã ký Tuyên bố ý định thúc đẩy hợp tác lâu dài về công nghệ vũ trụ và vệ tinh quan sát Trái đất. Trên nền tảng VNREDSat-1, hai bên đang thúc đẩy giai đoạn hợp tác tiếp theo, trong đó có đề xuất VNREDSat-2, với định hướng tăng mức độ tham gia của phía Việt Nam vào quá trình phát triển hệ thống.
Ông Trần Hồng Thái xác định rõ: “Mục tiêu không phải là sở hữu thêm một vệ tinh; mục tiêu cao hơn là sở hữu năng lực tạo ra và phát triển công nghệ vệ tinh”.
Tinh thần hợp tác với Pháp vì vậy là chuyển “từ mua sắm hệ thống sang đồng phát triển, từ đào tạo vận hành sang đào tạo thiết kế, và từ chuyển giao một sản phẩm sang hình thành một năng lực công nghệ bền vững của Việt Nam”.
USTH và bài toán phát triển con người
Một điểm sáng khác trong hợp tác Việt - Pháp là Trường Đại học Khoa học và Công nghệ Hà Nội (USTH).
Theo GS.TS Trần Hồng Thái, “USTH là một mô hình rất đặc biệt trong quan hệ Việt Nam - Pháp, bởi đây không phải là một chương trình hợp tác đơn lẻ mà là một thiết chế hợp tác lâu dài giữa hai Chính phủ trong giáo dục đại học, nghiên cứu và đổi mới sáng tạo”.

USTH được thành lập năm 2009 và hiện nhận được sự hỗ trợ của mạng lưới hơn 30 trường đại học và tổ chức nghiên cứu của Pháp. Ảnh về hệ thống máy móc hiện đại theo chuẩn quốc tế của trường. Ảnh: Trường Đại học Khoa học và Công nghệ Hà Nội
USTH được thành lập năm 2009 và hiện nhận được sự hỗ trợ của mạng lưới hơn 30 trường đại học và tổ chức nghiên cứu của Pháp.
Trong tương lai, USTH được định hướng trở thành đầu mối kết nối các năng lực khoa học của Pháp với những lĩnh vực Việt Nam đang cần như công nghệ vũ trụ, trí tuệ nhân tạo và khoa học dữ liệu, bán dẫn, công nghệ sinh học, vật liệu tiên tiến, năng lượng mới, môi trường và biến đổi khí hậu.
Nga và Pháp có những thế mạnh khác nhau, nhưng cả hai đều có thể góp phần vào quá trình xây dựng nội lực khoa học - công nghệ Việt Nam. Như ông Thái khẳng định: “Mục tiêu cuối cùng rất rõ ràng: biến hợp tác quốc tế thành một phương thức nâng cao nội lực khoa học công nghệ quốc gia, biến tri thức chung thành năng lực của các nhà khoa học Việt Nam và biến kết quả nghiên cứu thành những lời giải cụ thể cho các bài toán phát triển của đất nước”.


