Từ mùa Thu độc lập đến bản lĩnh kiến tạo một Việt Nam tự cường

81 năm sau ngày 2/9/1945, giá trị của mùa Thu Độc lập không chỉ nằm trong ký ức về một dân tộc đã giành lại quyền tự quyết, mà còn tiếp tục soi sáng cách Việt Nam bước vào một thế giới nhiều biến động.

Trong kỷ nguyên phát triển mới, độc lập phải được bồi đắp bằng năng lực tự chủ chiến lược, bằng một Nhà nước kiến tạo, một nền kinh tế có sức chống chịu, một nền văn hóa có bản lĩnh và một thế đối ngoại đủ tự tin để kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại.

Sơ duyệt cấp nhà nước chương trình diễu binh, diễu hành chuẩn bị tổng duyệt và thực hiện nhiệm vụ chính thức trong đại lễ kỷ niệm 80 năm Quốc khánh 2/9. (Ảnh: Nguyễn Hồng)

Sơ duyệt cấp nhà nước chương trình diễu binh, diễu hành chuẩn bị tổng duyệt và thực hiện nhiệm vụ chính thức trong đại lễ kỷ niệm 80 năm Quốc khánh 2/9. (Ảnh: Nguyễn Hồng)

Độc lập hôm nay là năng lực tự chủ để phát triển

Mỗi dịp Quốc khánh 2/9, chúng ta lại nhớ đến khoảnh khắc tại Quảng trường Ba Đình năm 1945, khi Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt dân tộc Việt Nam tuyên bố với thế giới quyền độc lập, tự do của một quốc gia đã tự mình đứng lên giành lại vận mệnh. Đó là thời khắc một dân tộc bước ra khỏi thân phận thuộc địa, nhưng cũng là thời khắc Việt Nam xác lập một nguyên tắc có giá trị lâu dài: Tương lai của đất nước trước hết phải do chính người Việt Nam quyết định.

Sau 81 năm, nguyên tắc ấy vẫn còn nguyên ý nghĩa, chỉ có nội hàm của độc lập ngày càng rộng hơn. Trong thế kỷ XXI, một quốc gia có thể giữ vững biên giới, chủ quyền theo nghĩa truyền thống nhưng vẫn đứng trước những dạng phụ thuộc mới về công nghệ, dữ liệu, chuỗi cung ứng, năng lượng, tài chính, thị trường hay tri thức. Vì thế, bảo vệ độc lập hôm nay không chỉ là bảo vệ lãnh thổ; đó còn là xây dựng năng lực tự chủ đủ mạnh để đất nước không bị động trước những biến động bên ngoài và có khả năng lựa chọn con đường phát triển phù hợp với lợi ích quốc gia - dân tộc.

Điều này càng trở nên rõ ràng khi thế giới đang chuyển động rất nhanh. Cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, đứt gãy chuỗi cung ứng, những bước nhảy của trí tuệ nhân tạo, biến đổi khí hậu và các thách thức an ninh phi truyền thống đang làm thay đổi sâu sắc môi trường phát triển. Không quốc gia nào có thể đứng ngoài thế giới, nhưng cũng không quốc gia nào có thể phát triển bền vững nếu để năng lực cốt lõi của mình phụ thuộc hoàn toàn vào bên ngoài.

Bởi vậy, bài học của mùa Thu Độc lập cần được chuyển hóa thành một bản lĩnh phát triển mới: Hội nhập sâu rộng nhưng không hòa tan; mở cửa để tiếp nhận nguồn lực bên ngoài nhưng đồng thời phải bồi đắp nội lực; tham gia ngày càng sâu vào các chuỗi giá trị toàn cầu nhưng phải nâng dần vị trí của Việt Nam trong những chuỗi giá trị ấy; hợp tác rộng rãi với các đối tác nhưng luôn giữ vững quyền tự quyết đối với những vấn đề hệ trọng của đất nước.

Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 28/7/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam đã thể hiện rất rõ tinh thần đó khi xác định chuyển sang mô hình phát triển “tự cường, sáng tạo, nhân văn, bền vững và hội nhập”, trong đó nội lực là quyết định, ngoại lực là quan trọng, đột phá; đồng thời nhấn mạnh yêu cầu nâng cao năng lực tự chủ chiến lược, sức chống chịu, khả năng thích ứng, tự phục hồi và quản trị rủi ro. Đây là một cách tiếp cận rất đáng chú ý, bởi nó đặt câu chuyện phát triển trong mối quan hệ trực tiếp với năng lực bảo đảm độc lập và tự chủ của quốc gia.

ĐBQH. Bùi Hoài Sơn. (Ảnh CGCC)

ĐBQH. Bùi Hoài Sơn. (Ảnh CGCC)

Tự cường ở đây không đồng nghĩa với khép kín mà để hội nhập sâu hơn với một tâm thế chủ động hơn. Một nền kinh tế có năng lực công nghệ, một hệ thống doanh nghiệp mạnh, một nguồn nhân lực chất lượng cao, một nền văn hóa giàu bản sắc và một Nhà nước có năng lực quản trị tốt sẽ giúp Việt Nam có thêm khả năng lựa chọn, thêm không gian chính sách và thêm sức nặng trong các quan hệ quốc tế.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhiều lần nhấn mạnh yêu cầu kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. Theo tôi, điều quan trọng là phải hiểu mối quan hệ ấy theo một chiều hướng tích cực và chủ động: Sức mạnh thời đại chỉ có thể được chuyển hóa thành sức mạnh của Việt Nam khi chúng ta có đủ nội lực để hấp thụ, làm chủ và sáng tạo lại những nguồn lực đến từ bên ngoài. Vốn, công nghệ, tri thức hay mạng lưới quốc tế sẽ chỉ thực sự tạo ra giá trị lâu dài khi giúp năng lực quốc gia được nâng lên.

Ở góc độ này, Quốc khánh 2/9 không chỉ là ngày để tự hào về nền độc lập đã giành được, mà còn là dịp để mỗi thế hệ tự hỏi mình đang làm gì để nền độc lập ấy bền vững hơn. Nếu thế hệ năm 1945 phải giành quyền tự quyết bằng ý chí và hy sinh, thì thế hệ hôm nay phải bảo vệ quyền tự quyết bằng tri thức, công nghệ, chất lượng thể chế, sức mạnh kinh tế, bản lĩnh văn hóa và năng lực hội nhập.

Nhà nước kiến tạo và vị thế Việt Nam trong một thế giới biến động

Để xây dựng một Việt Nam tự cường, điều kiện có ý nghĩa quyết định là phải có một Nhà nước đủ năng lực kiến tạo phát triển. Một quốc gia không thể nâng cao vị thế quốc tế nếu bên trong vẫn tồn tại những điểm nghẽn kéo dài về thể chế, thủ tục, phân bổ nguồn lực hay trách nhiệm thực thi. Sức mạnh đối ngoại trước hết phải được tạo nên từ sức mạnh bên trong.

Đây cũng là điểm rất đáng chú ý trong Nghị quyết 19-NQ/TW khi xác định đổi mới thể chế và quản trị quốc gia là khâu đột phá; chuyển từ tư duy quản lý, kiểm soát sang kiến tạo, dẫn dắt phát triển; quản trị dựa trên mục tiêu, dữ liệu, khả năng phản ứng chính sách và kết quả phát triển; lấy hiệu quả điều phối, chất lượng phục vụ Nhân dân, doanh nghiệp và năng lực giải quyết vấn đề làm thước đo.

Theo tôi, tư duy kiến tạo có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh hiện nay. Trong một thế giới mà cơ hội công nghệ, dòng vốn và thị trường thay đổi rất nhanh, sự chậm trễ của bộ máy có thể khiến một quốc gia bỏ lỡ cả một chu kỳ phát triển. Một thủ tục kéo dài không đơn thuần là chi phí hành chính; nó có thể là một khoản đầu tư bị chuyển sang nơi khác. Một cơ chế không rõ ràng có thể khiến những ý tưởng đổi mới không được thử nghiệm. Một tâm lý sợ trách nhiệm có thể làm chậm những quyết định mà thực tiễn đang đòi hỏi.

Một dân tộc từng làm nên cuộc cách mạng lớn trong điều kiện vô cùng khó khăn có quyền tin vào khả năng tạo ra những bước phát triển mới. (Ảnh: Nguyễn Hồng)

Một dân tộc từng làm nên cuộc cách mạng lớn trong điều kiện vô cùng khó khăn có quyền tin vào khả năng tạo ra những bước phát triển mới. (Ảnh: Nguyễn Hồng)

Vì vậy, Nhà nước kiến tạo phải làm được ba việc. Trước hết là tạo ra một thể chế minh bạch, ổn định và có khả năng dự báo, để người dân và doanh nghiệp yên tâm đầu tư cho dài hạn. Thứ hai là khơi thông và phân bổ hiệu quả các nguồn lực, nhất là nguồn lực đất đai, tài chính, khoa học - công nghệ, dữ liệu và nguồn nhân lực. Thứ ba là tạo ra một môi trường khuyến khích sáng tạo, nơi những người dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung được bảo vệ và những mô hình mới có không gian để thử nghiệm.

Tinh thần ấy gắn chặt với thông điệp của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm rằng “tổ chức mới phải tạo ra năng lực mới”. Sau những thay đổi lớn về tổ chức bộ máy, điều quan trọng nhất không còn nằm ở sơ đồ tổ chức, mà ở chất lượng vận hành. Bộ máy mới phải xử lý công việc nhanh hơn, phối hợp tốt hơn, phản ứng chính sách kịp thời hơn và đem lại chất lượng phục vụ tốt hơn cho người dân, doanh nghiệp. Nếu cơ cấu thay đổi mà phương thức làm việc không thay đổi, thì cải cách chưa tạo ra năng lực phát triển mới.

Một Nhà nước kiến tạo cũng phải đặt nhân dân ở trung tâm. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã nhấn mạnh yêu cầu “lấy kết quả phục vụ nhân dân làm thước đo”. Đó là một nguyên tắc tưởng như giản dị nhưng có ý nghĩa rất lớn: Nhà nước không thể chỉ đo hiệu quả bằng những gì bộ máy đã làm, mà phải đo bằng những gì người dân thực sự nhận được. Từ cách tiếp cận ấy, một chính sách tốt phải giúp cuộc sống thuận lợi hơn, một thủ tục tốt phải tiết kiệm thời gian hơn, một nền hành chính tốt phải làm cho người dân cảm thấy được tôn trọng hơn.

Nhưng nếu chỉ dừng lại ở cải cách hành chính, chúng ta vẫn chưa đi hết ý nghĩa của Nhà nước kiến tạo. Ở tầm quốc gia, Nhà nước phải đóng vai trò tạo lập những năng lực mà thị trường đơn lẻ khó có thể tự hình thành: Hạ tầng chiến lược, năng lực nghiên cứu cơ bản, nguồn nhân lực trình độ cao, hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, năng lực công nghệ lõi và những doanh nghiệp có khả năng dẫn dắt. Đây chính là những nền tảng để Việt Nam không chỉ tham gia mà còn có thể định vị mình tốt hơn trong nền kinh tế thế giới.

Trong quan hệ quốc tế, một Việt Nam có nội lực mạnh sẽ có tiếng nói mạnh hơn. Đối ngoại không chỉ là nghệ thuật mở rộng quan hệ, mà còn là quá trình chuyển hóa quan hệ thành nguồn lực phát triển và chuyển hóa năng lực phát triển thành vị thế quốc gia. Khi Việt Nam có doanh nghiệp mạnh hơn, sản phẩm sáng tạo hơn, khoa học - công nghệ tốt hơn, văn hóa có sức lan tỏa hơn và thể chế đáng tin cậy hơn, sức hấp dẫn và uy tín quốc tế của đất nước cũng được nâng lên một cách bền vững.

Đó cũng là lý do Nghị quyết về mô hình phát triển mới đặt văn hóa và con người trong vị trí nền tảng, là nguồn lực và động lực nội sinh, đồng thời coi đối ngoại và hội nhập quốc tế là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên. Hai phương diện ấy không tách rời nhau. Một quốc gia chỉ có thể hội nhập bằng một bản sắc rõ ràng; chỉ có thể tạo dựng sức mạnh mềm khi những giá trị mà mình muốn giới thiệu ra thế giới được nuôi dưỡng vững chắc trong xã hội.

Từ góc nhìn đó, bài học 2/9 còn là bài học về niềm tin. Một dân tộc từng làm nên cuộc cách mạng lớn trong điều kiện vô cùng khó khăn có quyền tin vào khả năng tạo ra những bước phát triển mới. Nhưng niềm tin chỉ trở thành sức mạnh khi được tổ chức thành hành động, được hỗ trợ bằng thể chế và được dẫn dắt bằng những mục tiêu đủ lớn.

Vì thế, mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao vào năm 2045 không chỉ là một cột mốc kinh tế. Đó là sự tiếp nối logic của hành trình độc lập: Từ giành quyền tự quyết đến tạo ra năng lực để sử dụng quyền tự quyết ấy một cách hiệu quả; từ giành lại vị thế quốc gia đến xây dựng một vị thế xứng đáng trong cộng đồng quốc tế.

81 năm sau mùa Thu Độc lập, thế giới đã khác rất nhiều và Việt Nam cũng đã khác rất nhiều. Nhưng giá trị cốt lõi vẫn không thay đổi: Một dân tộc muốn bước đi vững vàng phải làm chủ được vận mệnh của mình. Trong kỷ nguyên mới, làm chủ vận mệnh chính là làm chủ tri thức, công nghệ và những năng lực phát triển then chốt; là có một Nhà nước biết kiến tạo và phục vụ; là có một xã hội biết khơi dậy khát vọng cống hiến; là có một nền đối ngoại đủ bản lĩnh để mở rộng không gian phát triển cho đất nước.

Từ mùa Thu Độc lập đến bản lĩnh kiến tạo một Việt Nam tự cường vì thế là một hành trình liên tục. Nếu năm 1945 chúng ta tuyên bố với thế giới quyền được độc lập, thì nhiệm vụ của hôm nay là chứng minh bằng sự phát triển rằng Việt Nam có đủ năng lực để bảo vệ, làm giàu và nâng cao giá trị của nền độc lập ấy. Đó cũng là cách thiết thực nhất để những giá trị của ngày 2/9 tiếp tục sống trong tương lai: biến niềm tự hào về lịch sử thành sức mạnh kiến tạo một Việt Nam tự chủ hơn, sáng tạo hơn, thịnh vượng hơn và có vị thế ngày càng cao trên thế giới.

ĐBQH. Bùi Hoài Sơn

Nguồn TG&VN: https://baoquocte.vn/tu-mua-thu-doc-lap-den-ban-linh-kien-tao-mot-viet-nam-tu-cuong-435481.html