Từ mùa thu Độc lập đến 'Thế trận lòng dân' trong kỷ nguyên mới

Đông đảo nhân dân tập trung tại Quảng trường Ba Đình nghe Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc Lập ngày 2/9/1945. Ảnh: TTXVN

Đông đảo nhân dân tập trung tại Quảng trường Ba Đình nghe Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc Lập ngày 2/9/1945. Ảnh: TTXVN

Mỗi lần ngày Quốc khánh 2/9 trở về, hình ảnh Quảng trường Ba Đình năm 1945 lại hiện lên như một biểu tượng thiêng liêng của lịch sử dân tộc. Từ lễ đài lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời đọc Tuyên ngôn Độc lập, khẳng định quyền tự do, độc lập của dân tộc Việt Nam trước quốc dân đồng bào và toàn thế giới. Nhưng đằng sau bản Tuyên ngôn ấy là cả một cuộc chuyển mình vĩ đại: từ thân phận nô lệ trở thành người làm chủ đất nước, từ những con người bị áp bức trở thành công dân của một quốc gia độc lập.

Nếu chỉ nhìn Cách mạng Tháng Tám và ngày 2/9 như kết quả của một thời cơ chính trị thuận lợi, chúng ta sẽ chưa thấy hết chiều sâu của lịch sử. Thời cơ chỉ trở thành lịch sử khi có một dân tộc đủ ý chí, đủ niềm tin và đủ sức mạnh để nắm lấy. Điều làm nên kỳ tích mùa Thu năm 1945 chính là sự gặp gỡ giữa đường lối đúng đắn với khát vọng cháy bỏng của Nhân dân; giữa sự lãnh đạo của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh với sức mạnh đại đoàn kết của hàng triệu người Việt Nam.

Nhân dân không đứng ngoài cuộc cách mạng ấy. Nhân dân là chủ thể. Từ thành thị đến nông thôn, từ công nhân, nông dân, trí thức đến thanh niên, phụ nữ, đồng bào các dân tộc, tôn giáo, những con người khác nhau về hoàn cảnh đã gặp nhau ở một điểm chung lớn nhất: khát vọng độc lập. Chính khát vọng ấy đã biến thành hành động và cuối cùng kết tinh trong lời tuyên bố độc lập tại Ba Đình.

Bởi vậy, bài học sâu xa của ngày Độc lập không chỉ là bài học về giành chính quyền, mà còn là bài học về sức mạnh lòng dân. Lòng dân không phải một khái niệm trừu tượng. Đó là niềm tin của người dân vào mục tiêu chung của đất nước; là sự đồng thuận giữa khát vọng của dân tộc với mong muốn của từng con người; là sự sẵn sàng đặt lợi ích của Tổ quốc lên trên lợi ích riêng khi đất nước cần. Khi lòng dân đã thuận, những nguồn lực tưởng như nhỏ bé có thể cộng hưởng thành sức mạnh rất lớn.

Lịch sử sau ngày 2/9/1945 càng chứng minh chân lý đó. Nhà nước cách mạng non trẻ phải đối mặt với nạn đói, nạn dốt, thù trong giặc ngoài, nền kinh tế kiệt quệ. Nhưng những phong trào như “Tuần lễ vàng”, “Hũ gạo cứu đói”, “Bình dân học vụ” cho thấy khi người dân coi vận mệnh của Nhà nước cũng là vận mệnh của mình, sức mạnh xã hội có thể được huy động theo những cách phi thường.

Trong các cuộc kháng chiến bảo vệ Tổ quốc, sức mạnh ấy tiếp tục được nhân lên. Từ “thế trận chiến tranh nhân dân” đến “thế trận an ninh nhân dân”, cốt lõi vẫn là con người, là sự gắn bó giữa quân với dân và sự ủng hộ, tham gia của Nhân dân.

Đó cũng là bản sắc rất riêng của sức mạnh Việt Nam. An ninh không chỉ được bảo vệ bằng lực lượng chuyên trách; quốc phòng không chỉ được tạo nên bởi vũ khí; ổn định xã hội không chỉ được giữ bằng các quy định pháp luật. Nền tảng sâu xa nhất vẫn là sự đồng thuận, là niềm tin, là cảm giác của mỗi người dân rằng sự bình yên của đất nước gắn với sự bình yên của gia đình mình, rằng bảo vệ Tổ quốc cũng chính là bảo vệ cuộc sống và tương lai của chính mình.

Phát biểu tại Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ XI ngày 12/5/2026, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm khẳng định: “Đại đoàn kết toàn dân tộc là truyền thống quý báu, là đường lối chiến lược của Đảng, là cội nguồn sức mạnh Việt Nam”. Đáng chú ý hơn, đồng chí nhấn mạnh trong kỷ nguyên mới, đại đoàn kết không chỉ là truyền thống tinh thần mà còn là “năng lực phát triển quốc gia”, là sức mạnh để khơi thông nguồn lực, giải phóng sức sáng tạo, tạo đồng thuận xã hội và bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa.

Từ góc nhìn ấy, ngày Độc lập không chỉ là ký ức lịch sử để chúng ta tự hào. Đó còn là lời nhắc về một quy luật trường tồn: muốn đất nước vững thì phải dựa vào dân; muốn quốc gia mạnh thì phải khơi dậy sức dân; muốn vượt qua những thời khắc khó khăn thì trước hết phải giữ được lòng dân.

Hà Nội tưng bừng không khí chào mừng kỷ niệm 81 năm Quốc khánh 2/9. Nguồn: TTXVN

Hà Nội tưng bừng không khí chào mừng kỷ niệm 81 năm Quốc khánh 2/9. Nguồn: TTXVN

Tám mươi mốt năm sau ngày Độc lập, Việt Nam đã có cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế ngày càng cao, đồng thời hướng tới những mục tiêu phát triển lớn đến năm 2030 và 2045. Song cơ hội càng lớn, những thách thức mới càng phức tạp và khó dự báo.

Cạnh tranh chiến lược, xung đột địa chính trị, biến đổi khí hậu, tội phạm xuyên quốc gia, an ninh mạng, an ninh dữ liệu, những tác động của trí tuệ nhân tạo và sự lan truyền nhanh chóng của thông tin sai lệch đang làm cho khái niệm an ninh ngày càng rộng hơn. Có những nguy cơ không xuất hiện dưới hình thức xung đột truyền thống, nhưng lại có khả năng làm suy giảm niềm tin xã hội, gây chia rẽ cộng đồng và tác động trực tiếp đến sự ổn định của đất nước.

Trong bối cảnh đó, “thế trận lòng dân” cần được hiểu không chỉ như một khái niệm của quốc phòng, an ninh mà còn là nền tảng của phát triển bền vững. Một quốc gia muốn thu hút đầu tư, phát triển khoa học công nghệ, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và hội nhập sâu rộng trước hết phải là một quốc gia ổn định, có kỷ cương, có niềm tin xã hội và có khả năng kiểm soát rủi ro. Bình yên vì thế không chỉ là kết quả của phát triển; bình yên còn là điều kiện để phát triển.

Điều quan trọng là “thế trận lòng dân” không thể được xây dựng bằng khẩu hiệu. Niềm tin của Nhân dân được bồi đắp từ những điều cụ thể trong đời sống: một chính sách đúng và công bằng; một cán bộ biết lắng nghe; một thủ tục được giải quyết nhanh chóng; một vụ việc được xử lý nghiêm minh nhưng thấu tình đạt lý; một người yếu thế được bảo vệ; một người dân gặp khó khăn được giúp đỡ đúng lúc.

Trong bài viết “Ánh sáng Hồ Chí Minh soi đường cho chúng ta đi” công bố tháng 5/2026, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh mọi cải cách phải lấy Nhân dân làm trung tâm, lấy phục vụ Nhân dân tốt hơn làm mục tiêu và lấy sự hài lòng, niềm tin, hạnh phúc của Nhân dân làm thước đo đánh giá. Đây cũng là một phương thức căn bản để xây dựng “thế trận lòng dân” trong điều kiện mới.

Niềm tin phải được bồi đắp bằng việc lời nói đi đôi với hành động, pháp luật được áp dụng công bằng, bộ máy nhà nước gần dân và quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người dân được tôn trọng. Vì thế, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; cải cách hành chính; xây dựng đội ngũ cán bộ liêm chính, trách nhiệm; bảo đảm an sinh và an ninh, trật tự ngay từ cơ sở đều có chung một điểm đến: củng cố niềm tin của Nhân dân.

Với lực lượng Công an nhân dân, bài học này càng có ý nghĩa sâu sắc. Trong suốt quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, sức mạnh của lực lượng Công an luôn gắn với sự giúp đỡ, đùm bọc và tin yêu của Nhân dân. Phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc, những mô hình tự quản ở khu dân cư, những nguồn tin có giá trị từ người dân hay sự phối hợp giữa cán bộ Công an với cộng đồng đều cho thấy một nguyên lý: an ninh chỉ thực sự bền vững khi người dân vừa là đối tượng được bảo vệ, vừa là chủ thể tham gia bảo vệ.

Xây dựng lực lượng Công an nhân dân chính quy, tinh nhuệ, hiện đại vì thế phải song hành với xây dựng hình ảnh người chiến sĩ gần dân, trọng dân, hiểu dân và vì dân phục vụ. Trong thời đại số, mỗi ứng xử đúng mực, nhân văn có thể góp phần củng cố niềm tin; ngược lại, một biểu hiện quan liêu, vô cảm có thể tạo ra những tác động xã hội lớn hơn trước đây. Kỷ luật, văn hóa ứng xử, đạo đức công vụ và tinh thần phục vụ Nhân dân không chỉ là yêu cầu nội bộ mà còn là một phần của công tác bảo vệ an ninh từ gốc.

“Thế trận lòng dân” cũng phải được bồi đắp trên không gian mạng - một không gian sống mới của hàng chục triệu người Việt Nam. Nếu để tin giả, thông tin xuyên tạc, nội dung cực đoan và những thủ pháp thao túng tâm lý lấn át, niềm tin xã hội có thể bị xói mòn. Vì vậy, bên cạnh đấu tranh với hành vi vi phạm pháp luật, cần tăng cường truyền thông chính sách, cung cấp thông tin kịp thời, chính xác, minh bạch, nâng cao năng lực số và “sức đề kháng” thông tin của người dân. Khi người dân có đủ thông tin, có khả năng phân biệt đúng sai và có nơi để bày tỏ ý kiến một cách có trách nhiệm, những khoảng trống dễ bị lợi dụng sẽ thu hẹp.

Chương trình nghệ thuật đặc biệt chào mừng Kỷ niệm 81 năm Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Ảnh: An Đăng/TTXVN

Chương trình nghệ thuật đặc biệt chào mừng Kỷ niệm 81 năm Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Ảnh: An Đăng/TTXVN

Nhưng xây dựng lòng dân không chỉ là phòng ngừa nguy cơ. Quan trọng hơn là khơi dậy nguồn năng lượng tích cực của xã hội. Trong kỷ nguyên mới, sức dân cần được chuyển hóa thành sức sáng tạo, tinh thần khởi nghiệp, ý chí cống hiến và trách nhiệm công dân. Một nhà khoa học miệt mài nghiên cứu, một doanh nhân kinh doanh tử tế, một nghệ sĩ tạo ra sản phẩm có giá trị, một người trẻ làm chủ công nghệ mới, một cán bộ tận tâm giải quyết công việc cho dân, một người dân có ý thức chấp hành pháp luật và giúp đỡ cộng đồng - tất cả đều đang góp phần vào sức mạnh quốc gia.

Lòng yêu nước trong thời bình bắt đầu từ việc làm tốt công việc của mình, sống có trách nhiệm với cộng đồng, tôn trọng pháp luật, giữ gìn văn hóa và không thờ ơ trước lợi ích chung. Khi những hành động bình dị ấy được nhân lên trong hàng triệu con người, chúng tạo thành một nền tảng xã hội vững chắc.

Ngày 2/9/1945, dân tộc Việt Nam đã giành lại quyền quyết định vận mệnh của mình. Hôm nay, ý nghĩa sâu xa nhất của độc lập chính là khả năng tự chủ lựa chọn con đường phát triển và tạo ra một cuộc sống ngày càng tốt đẹp hơn cho Nhân dân. Để làm được điều đó, đất nước cần những nguồn lực mới, công nghệ mới, thể chế mới, nhưng có một nguồn lực không bao giờ cũ: sức mạnh của Nhân dân.

Từ mùa Thu Độc lập đến kỷ nguyên phát triển mới, có một mạch nguồn xuyên suốt: dân là gốc. Một đất nước được Nhân dân tin tưởng sẽ có sức mạnh để vượt qua bất ổn; một Nhà nước gần dân sẽ có năng lực hành động mạnh mẽ hơn; một xã hội đoàn kết sẽ có khả năng chống chịu tốt hơn trước mọi biến động.

Giữ vững lòng dân chính là giữ vững nền móng của quốc gia. Xây chắc “thế trận lòng dân” chính là tạo ra lá chắn từ gốc cho độc lập, chủ quyền, an ninh và trật tự, đồng thời mở ra nguồn năng lượng to lớn để phát triển. Đó cũng là cách thiết thực nhất để làm cho giá trị của ngày Độc lập tiếp tục sống trong hiện tại: không chỉ bằng ký ức và niềm tự hào, mà bằng niềm tin, trách nhiệm và khát vọng cùng nhau xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, ổn định, phồn vinh, văn minh và hạnh phúc.

Ảnh: Nguyễn Bình candonline

Ảnh: Nguyễn Bình candonline

PGS. TS. Bùi Hoài Sơn, Đại biểu Quốc hội Thành phố Hà Nội, Ủy viên chuyên trách Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội

Nguồn CAND: https://cand.vn/tu-mua-thu-doc-lap-den-the-tran-long-dan-trong-ky-nguyen-moi-post820767.html