Từ nhà D67 đến Đà Nẵng ngày 29/3/1975
Chiến trường Quảng - Đà những ngày cuối tháng 3/1975 rực lửa. Và một phần diễn tiến được viết lại qua hồi ức của Đại tướng Võ Nguyên Giáp: '...các cán bộ tác chiến, quân báo, thông tin, cơ yếu làm việc suốt ngày đêm. Tin chiến thắng dồn dập báo về cổ vũ mọi người làm việc hăng say, quên ăn, quên ngủ'. Đó là những ngày Đại tướng làm việc ở Tổng hành dinh.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp chụp ảnh cùng cán bộ chủ chốt trước nhà Quân ủy Trung ương D67 ngày 30/4/1975. Ảnh: Tư liệu
Tổng hành dinh - mật danh nhà D67 là một công trình đặc biệt được xây dựng vào năm 1967 ở khuôn viên Hoàng thành Thăng Long.
Công trình quân sự đặc biệt
Theo lối vào di tích Hoàng thành Thăng Long từ phía đường Hoàng Diệu, sau khi qua cổng Đoan Môn là đến điện Kính Thiên. Ở đây, đôi rồng đá thời Lê sơ vẫn hiện diện qua hơn 550 năm lịch sử. Tiếp tục về phía Hậu Lâu, phía cuối lối đi bên trái, có một khu nhà nép mình khiêm tốn giữa vườn cây xanh mướt.
Nhưng chính nơi đây đã trải qua những giờ phút “nước sôi lửa bỏng” của lịch sử cách mạng Việt Nam - nhất là trong 12 ngày đêm Mỹ dùng “pháo đài bay” B52 đánh phá miền Bắc tháng 12/1972 và đặc biệt là những quyết định ra đời trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, tháng 4/1975.
Lần theo những trang lịch sử, sau khi đánh chiếm Hà Nội, thực dân Pháp bắt đầu xây dựng trong khuôn viên Hoàng thành Thăng Long những công trình quân sự, trong đó có sở chỉ huy pháo binh trên nền điện Kính Thiên. Tiếp quản thủ đô năm 1954, Bộ Chính trị, Bộ Quốc phòng, Quân ủy Trung ương xây dựng nơi đây thành trụ sở làm việc.
Đến năm 1967, cách trụ sở này khoảng 30m, Bộ Quốc phòng xây dựng một công trình đặc biệt - gồm ngôi nhà trên mặt đất thông với hầm ngầm dưới độ sâu 10m, để chống các đợt không kích bằng bom hiện đại nhất của Mỹ lúc bấy giờ. Công trình được đặt mật danh “nhà D67” - hay còn gọi là Tổng hành dinh; từ tháng 9/1968 trở thành nơi diễn ra các cuộc họp của Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng...
Vì tầm quan trọng đó, so với bề ngoài khiêm tốn, nhỏ bé, phần nổi một tầng có chiều cao gần 8m được xây dựng trong khuôn viên hơn 600m2, là một công trình đặc biệt. Tường ngoài dày 6 tấc, tường trong dày gần 3 tấc, với lớp cách âm. Phần mái được làm bằng bê tông cốt thép đặc biệt với hai lớp trần và mái, ở giữa đổ một lớp cát để ngăn mảnh bom và rốc-két. Cửa cũng được thiết kế hai lớp, với lớp cửa ngoài bằng thép dày 1cm.
Ngay sau cửa chính là phòng họp với bàn gỗ dài, trên đó hiện đặt 24 biển tên bằng đồng những vị lãnh đạo tham dự cuộc họp mở rộng của Bộ Chính trị từ ngày 18/12/1974 đến ngày 8/1/1975 để bàn kế hoạch và hạ quyết tâm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
Bên phải phòng họp là phòng nghỉ, tiếp đó có cửa mở dẫn qua phòng làm việc của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng - Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Cửa bên trái phòng họp dẫn qua phòng làm việc của Tổng tham mưu trưởng - Đại tướng Văn Tiến Dũng. Từ hai phòng làm việc này, có hai cửa mở ra phía trước hành lang, dẫn xuống hầm ngầm, còn gọi là hầm Quân ủy Trung ương.
Sau chiến thắng mùa Xuân năm 1975, Tổng hành dinh - nhà D67, vẫn được Bộ Quốc phòng và Bộ Tổng tham mưu Quân đội Nhân dân Việt Nam sử dụng. Đến năm 2004, bàn giao cho Ban Quản lý Thành cổ Hà Nội - đến nay trở thành điểm tham quan đặc biệt trong hệ thống Hoàng thành Thăng Long.

Máy móc, thiết bị… còn nguyên bản trong hầm ngầm tại khu nhà và hầm D67. Ảnh: ANH QUÂN
Chiến dịch Đà Nẵng trong hồi ức Đại tướng ở Tổng hành dinh
Mặc dù nhà riêng ở số 30 Hoàng Diệu - cách Tổng hành dinh trong khu Hoàng thành không xa, nhưng Đại tướng Võ Nguyên Giáp thường xuyên làm việc, ăn nghỉ tại đây để kịp thời xử lý tình huống. Vì thế, nhà D67 là một phần không thể thiếu trong cuộc đời vị tướng lừng danh này. Trong cuốn sách “Tổng hành dinh trong mùa xuân toàn thắng” - Hồi ức của Đại tướng Võ Nguyên Giáp (do Phạm Chí Nhân thể hiện) đã ghi lại nhiều dấu ấn không quên của bộ thống soái những ngày tháng lịch sử trọng đại này ở nhà D67.
Ngày 26/3, khi Bộ Tổng tư lệnh cử Phó Tổng tham mưu trưởng Giáp Văn Cương làm phái viên vào hướng Đà Nẵng trước để chuẩn bị, Đại tướng Võ Nguyên Giáp triệu tập Tư lệnh Mặt trận Quảng Đà Lê Trọng Tấn (vừa được chỉ định), Tư lệnh Hải quân Nguyễn Bá Phát, Phó Tổng tham mưu trưởng Cao Văn Khánh cùng một số vị tướng tá khác bàn kế hoạch tiến công Đà Nẵng.
Sáu giờ sáng 27/3, khi thảo luận về phương án giải phóng Đà Nẵng với Tư lệnh Lê Trọng Tấn và các chỉ huy quân báo, nghiên cứu tình hình địch…, trước các ý kiến cần ba hay năm, bảy ngày địch sẽ rút, Đại tướng Võ Nguyên Giáp quyết “chỉ thị làm kế hoạch đánh địch theo tình huống chúng rút trong ba ngày”.
Ngay trong hôm đó, sau khi nghe Cục Quân báo báo cáo tình hình mới nhất, Đại tướng Võ Nguyên Giáp điện tiếp cho Quân đoàn II với nội dung cụ thể hơn: “Địch ở Đà Nẵng đang rối loạn... Cần nhanh chóng tiến đánh Đà Nẵng. Nếu có hiện tượng địch rút thì phải lập tức đánh tràn tới. Nếu chúng co cụm và cố thủ thì bao vây thật chặt, đánh ghìm chân không cho rút. Đồng thời tập trung lực lượng theo hướng đường 14 và đường 1, tiêu diệt địch, chiếm khu vực tây và tây bắc thành phố, thọc sâu vào cầu Trịnh Minh Thế, chặn đường rút của địch qua bán đảo Sơn Trà. Ký tên: Văn”.
Chiến dịch giải phóng Đà Nẵng toàn thắng ngày 29/3/1975, ngày 1/4, từ Tổng hành dinh, Quân ủy gửi điện khen bộ đội Mặt trận Quảng Đà: “Quân ủy Trung ương nhiệt liệt khen ngợi toàn thể cán bộ, chiến sĩ, đảng viên, đoàn viên các lực lượng bộ đội chủ lực và bộ đội địa phương, bộ đội đặc biệt tinh nhuệ, tự vệ Mặt trận Quảng Đà đã triệt để chấp hành mệnh lệnh, hành động táo bạo và kịp thời, phối hợp với nhân dân, trong một thời gian rất ngắn, tiêu diệt và làm tan rã toàn bộ quân địch, giải phóng toàn tỉnh Quảng Đà, đặc biệt thành phố Đà Nẵng là một căn cứ quân sự quan trọng bậc nhất của địch ở miền Nam Việt Nam. Quân ủy Trung ương tuyên dương công trạng các đồng chí trong toàn quân về chiến công chói lọi đã lập được. Ký tên: Văn”.
Nguồn Đà Nẵng: https://baodanang.vn/tu-nha-d67-den-da-nang-ngay-29-3-1975-3329968.html













