Từ Nhà nước của Nhân dân đến nền quản trị quốc gia hiện đại

(NB&CL) Ngày 2/9/1945, giữa Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, tuyên bố trước quốc dân đồng bào và thế giới sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đó không chỉ là một văn kiện khai sinh một quốc gia độc lập sau nhiều thập niên mất nước, mà còn mở ra một nền tảng chính trị - pháp lý mới cho Nhà nước Việt Nam hiện đại, nơi quyền lực không còn thuộc về một thiểu số cai trị, mà thuộc về Nhân dân; Nhà nước được lập nên để gánh vác việc chung, bảo đảm quyền sống, quyền tự do và hạnh phúc của con người.

Kỷ niệm 81 năm thành lập nước (1945 - 2026)

Hiệu quả phục vụ Nhân dân – thước đo của một nền quản trị mới

81 năm kể từ ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh trịnh trọng đọc “Tuyên ngôn Độc lập”, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam), mở ra một trang sử mới của dân tộc, câu chuyện về Nhà nước của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân vẫn không ngừng được viết tiếp trong những yêu cầu mới của đất nước. Nếu năm 1945, nhiệm vụ lịch sử là xây dựng một chính quyền mới, đặt quyền lực nhà nước trên nền tảng Nhân dân và đưa đất nước thoát khỏi đói nghèo, lạc hậu, thì hôm nay, trước những biến đổi sâu sắc của thời đại số, yêu cầu ấy đang được đặt ở một tầm cao khác, xây dựng năng lực quản trị quốc gia hiện đại, kiến tạo và hiệu quả. Đó không chỉ là câu chuyện của thể chế, bộ máy hay công nghệ, mà là cuộc đổi mới cách Nhà nước nhìn nhận, tổ chức và thực thi quyền lực, để cuối cùng mọi cải cách đều quy tụ về một điểm: phục vụ tốt hơn, tạo cơ hội phát triển tốt hơn và củng cố niềm tin của Nhân dân.

Từ nền tảng ấy, một quan niệm về chính quyền mới đã được hình thành rất sớm và nhất quán trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Chỉ ít ngày sau Độc lập, trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời ngày 3/9/1945, Người đã đặt trước chính quyền non trẻ những việc hết sức cụ thể: chống đói, chống dốt, tổ chức tổng tuyển cử, xây dựng Hiến pháp, thực hiện các quyền tự do, chăm lo đời sống nhân dân. Đó là những việc tưởng như rất đời thường, nhưng phía sau là một nhận thức có ý nghĩa nền tảng: giá trị của chính quyền phải được chứng minh bằng những gì chính quyền làm cho dân.

Ngày 19/9/1945, trong bài “Chính phủ là công bộc của dân”, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Các công việc của Chính phủ làm phải nhằm vào một mục đích duy nhất là mưu cầu tự do hạnh phúc cho mọi người”. Người đồng thời nhấn mạnh: “Việc gì có lợi cho dân thì làm. Việc gì có hại cho dân thì phải tránh”. Những lời căn dặn ấy được đưa ra khi Nhà nước mới chỉ vừa được thành lập, đất nước đứng trước muôn vàn khó khăn, nhưng đã đặt ra một chuẩn mực lâu dài đối với quyền lực công: Quyền lực chỉ có ý nghĩa khi được sử dụng vì lợi ích của Nhân dân.

Diễu hành kỷ niệm 80 năm Quốc khánh 2/9. Ảnh: T.L

Diễu hành kỷ niệm 80 năm Quốc khánh 2/9. Ảnh: T.L

Đó chính là mạch tư tưởng xuyên suốt từ những ngày đầu lập quốc đến quá trình xây dựng Nhà nước Việt Nam qua các thời kỳ. Từ Hiến pháp năm 1946 đến các bản Hiến pháp sau này, nguyên tắc Nhân dân là chủ thể của quyền lực nhà nước ngày càng được thể chế hóa, hoàn thiện. Trong tiến trình đổi mới, cùng với yêu cầu phát triển kinh tế, bảo đảm quyền con người, quyền công dân và xây dựng một xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, tư duy về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam từng bước được định hình rõ hơn, trở thành một nhiệm vụ trọng tâm của quá trình đổi mới hệ thống chính trị và xây dựng đất nước.

Từ Nhà nước của dân đến Nhà nước pháp quyền

Nhìn lại chặng đường 81 năm, có thể thấy xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam không phải là một sự chuyển hướng tách rời khỏi nền tảng được xác lập từ năm 1945, mà là một quá trình phát triển, hoàn thiện và thể chế hóa ngày càng đầy đủ hơn tư tưởng Nhà nước của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân.

Nhà nước pháp quyền trước hết phải là Nhà nước thượng tôn Hiến pháp và pháp luật; quyền lực nhà nước được tổ chức, phân công, phối hợp và kiểm soát; quyền con người, quyền công dân được tôn trọng, bảo đảm và bảo vệ. Nhưng pháp quyền, nếu chỉ được nhìn như hệ thống quy định và thiết chế, vẫn chưa đủ. Đích đến cuối cùng của Nhà nước pháp quyền Việt Nam vẫn là bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, tạo ra một trật tự trong đó pháp luật không chỉ được ban hành đầy đủ mà phải được thực thi nghiêm minh, công bằng và vì con người.

Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 9/11/2022 của Ban Chấp hành Trung ương về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới đã xác định mục tiêu “quản trị quốc gia hiện đại, hiệu quả”, đồng thời đặt yêu cầu xây dựng nền hành chính phục vụ Nhân dân, dân chủ, pháp quyền, chuyên nghiệp, hiện đại, khoa học, trong sạch, công khai, minh bạch, tạo môi trường thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp. Đáng chú ý, nghị quyết không dừng ở yêu cầu làm cho bộ máy hoạt động hiệu lực, hiệu quả, mà nhấn mạnh đổi mới quản trị quốc gia theo hướng hiện đại, tăng cường tính minh bạch, trách nhiệm giải trình và sự tham gia của người dân.

Như vậy, từ “công bộc của dân” đến “quản trị quốc gia hiện đại” là một đường phát triển liên tục, trong đó điều không thay đổi chính là vị trí của Nhân dân trong mối quan hệ với Nhà nước. Cái thay đổi là phương thức để thực hiện tốt hơn trách nhiệm ấy trong những điều kiện mới. Việt Nam đã hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới, cơ cấu xã hội ngày càng đa dạng, kinh tế số phát triển nhanh, trí tuệ nhân tạo đang thay đổi phương thức sản xuất và đời sống, còn dữ liệu trở thành một nguồn lực đặc biệt quan trọng đối với năng lực cạnh tranh quốc gia. Trong một xã hội như vậy, cách Nhà nước xây dựng chính sách, tổ chức bộ máy, phân bổ nguồn lực và cung cấp dịch vụ công cũng cần phải thay đổi.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm: Sẽ không có Nhà nước pháp quyền XHCN trên thực tế nếu như cán bộ, đảng viên, cơ quan Nhà nước thờ ơ, thiếu trách nhiệm, vô cảm với quyền lợi hợp pháp, chính đáng của người dân, doanh nghiệp và sự phát triển KTXH. Ảnh: VGP.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm: Sẽ không có Nhà nước pháp quyền XHCN trên thực tế nếu như cán bộ, đảng viên, cơ quan Nhà nước thờ ơ, thiếu trách nhiệm, vô cảm với quyền lợi hợp pháp, chính đáng của người dân, doanh nghiệp và sự phát triển KTXH. Ảnh: VGP.

Không chỉ quản lý tốt hơn, mà phải quản trị tốt hơn

Quản lý hành chính truyền thống thường chú trọng vào quy trình, thẩm quyền, hồ sơ và sự tuân thủ. Những yếu tố ấy vẫn cần thiết đối với một Nhà nước pháp quyền, bởi không có kỷ luật, kỷ cương và pháp luật thì không thể có quản trị quốc gia hiệu quả. Nhưng trong điều kiện phát triển mới, như thế vẫn chưa đủ. Một nền quản trị hiện đại phải hướng mạnh hơn vào kết quả, vào khả năng phản ứng trước những vấn đề mới, vào sự phối hợp giữa các cơ quan, vào năng lực sử dụng dữ liệu và công nghệ, đồng thời mở rộng khả năng để người dân và doanh nghiệp tham gia vào quá trình hoạch định, thực thi và giám sát chính sách.

Nói cách khác, vấn đề không phải là thay thế “quản lý” bằng một khái niệm thời thượng là “quản trị”, mà là làm cho phương thức quản lý nhà nước thích ứng với một xã hội đang thay đổi rất nhanh.

Trong một phát biểu tại Học viện Hành chính và Quản trị công ngày 28/2/2026, nguyên Thủ tướng Phạm Minh Chính khẳng định:“Năng lực quản trị quốc gia đã trở thành một loại tài sản chiến lược, là sức mạnh mềm cốt lõi, quyết định khả năng bứt phá, vươn lên tự chủ chiến lược, khẳng định vị thế, sự phát triển của mỗi quốc gia”. Nhận định cho thấy quản trị quốc gia ngày nay không còn chỉ là câu chuyện nội bộ của bộ máy hành chính. Nó đã trở thành một bộ phận của năng lực cạnh tranh quốc gia, tác động trực tiếp đến môi trường đầu tư, chất lượng dịch vụ công, hiệu quả sử dụng nguồn lực xã hội và niềm tin của người dân.

Trong bối cảnh ấy, cuộc cách mạng hiện nay về tổ chức bộ máy, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, xây dựng chính quyền số, kết nối dữ liệu và đổi mới phương thức điều hành cần được nhìn trong một chỉnh thể lớn hơn. Đó là quá trình tái thiết năng lực quản trị quốc gia để đáp ứng yêu cầu phát triển mới.

Điều này cũng lý giải vì sao tinh gọn bộ máy không thể chỉ được đo bằng số lượng cơ quan giảm đi hay số lượng biên chế được cắt giảm. Tinh gọn phải đi cùng với phân định rõ trách nhiệm, giảm tầng nấc trung gian, tăng năng lực thực thi và quan trọng hơn là làm cho quyết định được đưa ra gần thực tiễn hơn, được thực hiện nhanh hơn và chịu trách nhiệm rõ ràng hơn.

Tương tự, chuyển đổi số cũng không thể chỉ được hiểu là đưa thủ tục hành chính lên môi trường trực tuyến. Nếu một quy trình rườm rà được số hóa mà bản chất không thay đổi, người dân có thể không phải cầm hồ sơ đến cơ quan nhà nước, nhưng vẫn phải trải qua một quy trình phức tạp. Quản trị số vì thế phải bắt đầu từ việc thiết kế lại quy trình, liên thông dữ liệu, chia sẻ thông tin giữa các cơ quan và sử dụng công nghệ để Nhà nước chủ động phục vụ người dân thay vì buộc người dân liên tục chứng minh những thông tin mà Nhà nước đã có.

Đây là một thay đổi sâu hơn về tư duy, từ chỗ người dân tìm đến Nhà nước để giải quyết công việc, tiến tới một nền hành chính có khả năng chủ động nhận diện nhu cầu, cung cấp dịch vụ và giải quyết vấn đề của người dân.

Câu chuyện 81 năm trước và lời đáp của hôm nay

Trong bài viết “Phát huy tính Đảng trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam” công bố tháng 10/2024, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm có đoạn nhấn mạnh: “Sẽ không có Nhà nước pháp quyền XHCN trên thực tế nếu như cán bộ, đảng viên, cơ quan Nhà nước thờ ơ, thiếu trách nhiệm, vô cảm với quyền lợi hợp pháp, chính đáng của người dân, doanh nghiệp và sự phát triển KTXH”.

Câu nói ấy đặt vấn đề về Nhà nước pháp quyền trở lại đúng nơi mà nó cần được kiểm nghiệm: Trong đời sống thực tế.

Một đạo luật tốt phải đi được vào cuộc sống. Một chính sách đúng phải tạo ra kết quả. Một bộ máy được tinh gọn phải hoạt động hiệu quả hơn. Một nền hành chính số phải giúp người dân giảm thời gian, chi phí và công sức. Một chính quyền kiến tạo phải tạo được môi trường để người dân và doanh nghiệp phát huy năng lực. Và cuối cùng, mọi cải cách phải được phản chiếu qua sự hài lòng, niềm tin và những lợi ích mà người dân thực sự nhận được.

Đó cũng là lý do đổi mới quản trị quốc gia hôm nay cần được nhìn như một bước phát triển mới của lời khẳng định đã được đặt ra từ ngày đầu lập nước, chứ không phải một câu chuyện thuần túy về công nghệ, tổ chức bộ máy hay cải cách hành chính.

Ảnh: T.L

Ảnh: T.L

81 năm trước, Nhà nước Việt Nam mới được sinh ra đã phải trả lời câu hỏi: Chính quyền mới sẽ làm gì cho dân? 81 năm sau, câu hỏi ấy vẫn còn nguyên giá trị, nhưng được đặt trong những điều kiện hoàn toàn mới: Làm thế nào để một Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa có thể quản trị một quốc gia hiện đại, một nền kinh tế số, một xã hội đang chuyển động nhanh và người dân ngày càng có nhiều kỳ vọng hơn vào chất lượng phục vụ của Nhà nước?

Câu trả lời không thể chỉ nằm trong một nghị quyết, một mô hình tổ chức hay một nền tảng công nghệ. Nó phải được thể hiện bằng một hệ thống thể chế tốt hơn, một bộ máy tinh gọn và có năng lực hơn, một đội ngũ cán bộ có trách nhiệm và năng lực thực thi, một phương thức điều hành dựa nhiều hơn vào dữ liệu, khoa học và công nghệ, cùng một cơ chế để người dân thực sự được tham gia, được giám sát và được thụ hưởng thành quả phát triển.

Từ Ba Đình năm 1945 đến những trung tâm phục vụ hành chính công, những nền tảng dữ liệu và chính quyền số hôm nay là một khoảng cách rất dài về thời gian, nhưng không phải là sự đứt gãy về mục tiêu. Từ “công bộc của dân” đến “quản trị quốc gia hiện đại”, điều được nối dài vẫn là trách nhiệm của Nhà nước trước Nhân dân.

Và nếu coi đó là một cam kết lịch sử, thì đổi mới quản trị quốc gia chính là cách thế hệ hôm nay viết tiếp lời cam kết ấy bằng những kết quả cụ thể trong đời sống của mỗi người dân.

Hoài Đức

Nguồn Công Luận: https://congluan.vn/tu-nha-nuoc-cua-nhan-dan-den-nen-quan-tri-quoc-gia-hien-dai-post358549.html