Từ thành Cổ Loa đến những Công trình Quốc phòng hiện đại: Bài 1: Dựng thế giữ nước - mạch nguồn xuyên suốt lịch sử dân tộc
LTS: Trên biên giới đất liền, giữa biển, đảo tiền tiêu hay sâu trong lòng núi, mỗi công trình quốc phòng đều gắn với trí tuệ, công sức và sự hy sinh thầm lặng của Bộ đội Công binh. Theo dấu những người xây dựng công trình quốc phòng, chúng tôi hiểu thêm giá trị trong công tác chuẩn bị từ thời bình, những đóng góp của Cục Công trình Quốc phòng (Binh chủng Công binh) qua 70 năm và yêu cầu xây dựng thế trận bảo vệ Tổ quốc trước sự phát triển của các phương thức tác chiến hiện đại.
Lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam là lịch sử của ý chí độc lập, tự chủ, khát vọng hòa bình và tinh thần quật cường chống ngoại xâm. Trong hành trình ấy, cùng với nghệ thuật quân sự độc đáo và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, việc xây dựng các công trình phòng thủ luôn giữ vị trí đặc biệt quan trọng, góp phần tạo nên thế và lực bảo vệ đất nước qua các thời kỳ lịch sử.
Nghệ thuật tạo thế và giữ thế
Tìm hiểu về những công trình phòng thủ đất nước, chúng tôi được trò chuyện và theo chân lãnh đạo, chỉ huy Cục Công trình Quốc phòng (CTQP) kiểm tra tiến độ, chất lượng một số công trình trọng điểm do đơn vị hướng dẫn, chỉ đạo kỹ thuật xây dựng.
Nhiều năm gắn bó với Cục CTQP, từ khi làm trợ lý, cán bộ phụ trách các phòng chuyên môn và đến nay là Cục trưởng, Đại tá Nguyễn Đức Tài tham gia thẩm tra, thẩm định thiết kế kỹ thuật nhiều công trình chiến đấu, đường cơ động, đường tuần tra biên giới, đường Trường Sơn Đông, sân bay, cầu cảng... Trên cương vị người đứng đầu cơ quan giúp Bộ tư lệnh Binh chủng Công binh tham mưu cho Bộ Quốc phòng về quản lý, xây dựng CTQP, anh vẫn giữ nguyên chất lính công binh: Giản dị, khiêm nhường nhưng rất quyết đoán. Qua những chuyến đi, những công trình gắn bó, anh thấu hiểu ý nghĩa của việc xây thế giữ nước ngay từ thời bình.

Lãnh đạo Cục Công trình Quốc phòng kiểm tra công tác bảo đảm an toàn trong thi công công trình. Ảnh: MINH MẠNH
Đại tá Nguyễn Đức Tài chia sẻ, xuyên suốt lịch sử dựng nước và giữ nước, cùng với sức mạnh đại đoàn kết, việc kiến tạo các công trình phòng thủ luôn giữ vị trí quan trọng. Từ thành Cổ Loa thời Âu Lạc, phòng tuyến sông Như Nguyệt thời Lý đến trận địa cọc Bạch Đằng thời Trần, cha ông ta đã kết hợp địa hình, công trình và sức mạnh con người để tạo thế đánh giặc. Những công trình ấy không chỉ phản ánh trình độ kỹ thuật xây dựng của từng thời kỳ mà còn thể hiện nghệ thuật tạo thế, lập thế và giữ thế trong chiến tranh giữ nước.
Bước sang thời đại Hồ Chí Minh, dưới sự lãnh đạo của Đảng, tư duy xây dựng CTQP được kế thừa và phát triển lên một tầm cao mới. CTQP không còn là những thành lũy đơn lẻ mà trở thành một bộ phận hữu cơ trong nền quốc phòng toàn dân, gắn chặt với thế trận chiến tranh nhân dân và yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong điều kiện mới. Điều đặc biệt trong nghệ thuật quân sự Việt Nam là không tuyệt đối hóa vai trò của thành lũy hay công trình quân sự. Thực tiễn lịch sử cho thấy, công trình chỉ thực sự phát huy giá trị khi gắn với cách tổ chức lực lượng, sử dụng địa hình và phát huy sức dân. Trong chiến tranh nhân dân, sự kết hợp ấy càng tạo nên sức mạnh to lớn. Bởi vậy, nhiều công trình quân sự của cha ông đã vượt ra ngoài ý nghĩa vật chất để trở thành biểu tượng của trí tuệ, bản lĩnh và ý chí giữ nước của dân tộc.
Từ những dẫn chứng lịch sử, Đại tá Nguyễn Đức Tài đúc kết: CTQP là sự vật chất hóa sức mạnh bảo vệ Tổ quốc. Xây dựng hệ thống sở chỉ huy, hầm ngầm, đường cơ động ngay từ thời bình chính là bước tích lũy tiềm lực, tạo điều kiện chuyển hóa thành sức mạnh chiến đấu khi có tình huống.
Xây công trình gắn với xây thế trận
Thực tiễn các cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc và chiến tranh bảo vệ Tổ quốc đã chứng minh CTQP luôn là nhân tố quan trọng tạo nên sức mạnh chiến đấu của Quân đội và khả năng phòng thủ của đất nước.
Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, từ căn cứ địa Việt Bắc đến chiến trường Tây Bắc, hệ thống sở chỉ huy, công sự chiến đấu, kho tàng, đường cơ động, cầu phà và các công trình bảo đảm chiến đấu được xây dựng bằng trí tuệ, bản lĩnh của quân và dân ta. Đặc biệt, tại Điện Biên Phủ, hệ thống chiến hào, giao thông hào và công sự vây lấn đã góp phần quan trọng vào thắng lợi của chiến dịch. Từng đoạn hào nối dài giúp bộ đội áp sát, chia cắt, khống chế các cứ điểm, từng bước siết chặt vòng vây, tiến tới tiêu diệt tập đoàn cứ điểm mà Pháp cho là "bất khả xâm phạm". Thành quả chung ấy có công sức của Bộ đội Công binh cùng các lực lượng trực tiếp xây dựng trận địa.

Cán bộ công trình quốc phòng kiểm tra công trình sở chỉ huy Quân khu 5, năm 2005. Ảnh do đơn vị cung cấp
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, nghệ thuật xây dựng CTQP tiếp tục phát triển cả về quy mô và trình độ. Những địa đạo Củ Chi, Vịnh Mốc; hệ thống sở chỉ huy, trận địa phòng không, sân bay dã chiến, kho tàng; đường Trường Sơn và đường ống xăng dầu chiến lược đã góp phần tạo nên thế trận chiến tranh nhân dân rộng khắp, liên hoàn. Mỗi mét hầm, mỗi đoạn đường đều thấm mồ hôi và máu của quân, dân ta, trong đó có những người lính công binh. Các công trình che chở bộ đội, bảo vệ cơ quan lãnh đạo, chỉ huy, bảo đảm chi viện cho chiến trường, góp phần làm nên Đại thắng mùa xuân năm 1975, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
Đại tá Đỗ Văn Viện, Bí thư Đảng ủy, Phó cục trưởng Cục CTQP khẳng định: Thực tiễn lịch sử cho thấy CTQP không chỉ là sản phẩm kỹ thuật phục vụ tác chiến mà còn là bộ phận quan trọng của tiềm lực quốc phòng. Tiềm lực chính trị, tinh thần tạo nên ý chí bảo vệ Tổ quốc; tiềm lực kinh tế cung cấp nguồn lực vật chất; tiềm lực khoa học, công nghệ góp phần nâng cao năng lực quốc phòng. CTQP là một trong những biểu hiện cụ thể của việc huy động, tổ chức các nguồn lực ấy trên từng địa bàn chiến lược.
Mỗi sở chỉ huy, căn cứ hậu cần, kỹ thuật, công trình phòng thủ, hệ thống hầm ngầm, kho tàng chiến lược hay mạng lưới giao thông quân sự đều là những thành tố hữu hình của tiềm lực quốc phòng quốc gia. Đó là nền tảng để bảo đảm cho lực lượng vũ trang duy trì khả năng chỉ huy, cơ động, chiến đấu và bảo đảm chiến đấu trong mọi tình huống. Vì vậy, xây dựng CTQP không chỉ là nhiệm vụ của một ngành chuyên môn mà thực chất là quá trình xây dựng tiềm lực quốc phòng của đất nước ngay trong thời bình, tạo cơ sở để chuyển hóa thành sức mạnh chiến đấu khi Tổ quốc cần.
Ở góc độ ấy, giá trị của công trình không chỉ nằm ở quy mô, trong khối lượng đất đá, bê tông hay chiều dài một tuyến đường cụ thể. Điều quan trọng là công trình giúp tổ chức lực lượng, duy trì chỉ huy, bảo đảm cơ động và tạo điều kiện phát huy cách đánh. Một trận địa vững chắc phải phù hợp nhiệm vụ; một tuyến đường phải nối được các hướng, các khu vực cần bảo đảm. Bài học từ lịch sử vì thế vẫn còn nguyên ý nghĩa: Xây công trình luôn gắn với xây thế trận, lấy con người và cách tổ chức sử dụng làm yếu tố quyết định hiệu quả. Với cơ quan chuyên trách CTQP, điều đó còn đặt ra yêu cầu nối liền các khâu khảo sát, thiết kế, thi công và quản lý sử dụng. Mỗi khâu có nhiệm vụ riêng nhưng cùng hướng tới chất lượng, sự phù hợp với địa bàn và hiệu quả bảo đảm cho các lực lượng làm nhiệm vụ.
Ngày 7-11-1956, Phòng Công trình, tiền thân của Cục Công trình Quốc phòng ngày nay, được thành lập. Sự ra đời của cơ quan chuyên trách là dấu mốc quan trọng trong quá trình xây dựng lực lượng, tổ chức quản lý và phát triển CTQP. Từ yêu cầu thực tiễn, nhiệm vụ này từng bước được triển khai chặt chẽ hơn, gắn nghiên cứu, khảo sát, thiết kế với hướng dẫn, chỉ đạo kỹ thuật và quản lý chất lượng công trình. Đó cũng là biểu hiện cụ thể của tư duy chủ động chuẩn bị thế trận, tiềm lực để giữ nước lâu dài.
Từ thành Cổ Loa của cha ông đến những công trình quốc phòng hiện đại hôm nay là hành trình hàng nghìn năm kiến tạo sức mạnh phòng thủ đất nước. Tiếp nối hành trình ấy, suốt 7 thập kỷ, các thế hệ cán bộ, chiến sĩ, kỹ sư và người lao động ngành CTQP đã âm thầm góp sức chuyển ý chí bảo vệ Tổ quốc thành những công trình hiện hữu, bồi đắp tiềm lực và thế trận quốc phòng toàn dân.
(còn nữa)

