Từ tiết kiệm năng lượng đến động lực tăng trưởng kinh tế (kỳ II): 'Đòn bẩy' cho nền kinh tế xanh
Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả là một trong những giải pháp quan trọng nhất để bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia trong dài hạn.

Dự án điện gió tại đảo Phú Quý, Bình Thuận. (Nguồn: Báo Thanh Niên)
Những năm qua, chuyển đổi xanh đã dần được đặt ở vị trí trung tâm trong chiến lược phát triển của Việt Nam.
Tăng trưởng xanh, phát triển kinh tế tuần hoàn, chuyển dịch năng lượng và giảm phát thải không chỉ là những mục tiêu dài hạn mà ngày càng tác động trực tiếp đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.
Đặc biệt, khi các thị trường lớn liên tục nâng cao tiêu chuẩn môi trường, yêu cầu về phát thải carbon, sử dụng năng lượng sạch, truy xuất nguồn gốc hay tiêu chuẩn ESG (Môi trường - Xã hội - Quản trị) đang dần trở thành điều kiện để hàng hóa có thể tiếp cận thị trường.
Chuyển đổi xanh cụ thể hoá trong chủ trương, chính sách
Trước những thay đổi đó, chuyển đổi xanh được cụ thể hóa trong các chủ trương, chính sách lớn của Việt Nam, với mục tiêu vừa đáp ứng các cam kết về môi trường, vừa tạo dư địa cho một mô hình tăng trưởng mới.
Quan điểm này cũng phù hợp với định hướng được Bộ Chính trị đặt ra tại Nghị quyết 70-NQ/TW ngày 20/8/2025 về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
Nghị quyết xác định rõ: Sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả và giảm phát thải là một trong những trụ cột quan trọng để bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, hướng tới phát triển bền vững trong dài hạn.
Về mục tiêu tổng quát đến năm 2030, Nghị quyết 70-NQ/TW, bên cạnh mục tiêu đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia, Nghị quyết cũng đặt mục tiêu tỉ lệ tiết kiệm năng lượng trên tổng tiêu thụ năng lượng cuối cùng so với kịch bản phát triển bình thường khoảng 8-10%. Giảm phát thải khí nhà kính từ hoạt động năng lượng so với kịch bản phát triển bình thường khoảng 15-35%.
Chia sẻ với Báo Thế giới và Việt Nam, TS. Nguyễn Quốc Việt, chuyên gia Chính sách công tại Trường Đại học Kinh tế (Đại học Quốc gia Hà Nội) nhận định, tinh thần xuyên suốt của Nghị quyết 70-NQ/TW là “mở đường” thị trường điện cạnh tranh và đẩy mạnh thu hút đầu tư tư nhân. Doanh nghiệp tư nhân sẽ là nhân tố quyết định, giữ vai trò chủ đạo trong quá trình chuyển đổi năng lượng và phát triển năng lượng tái tạo.
TS. Việt cho rằng, Nghị quyết 70-NQ/TW sẽ “tiếp sức” cho khu vực kinh tế tư nhân tạo hệ sinh thái công nghệ năng lượng với R&D (nghiên cứu và phát triển).
“Nghị quyết sẽ tháo bỏ các rào cản, vướng mắc về mặt thể chế để các nhà đầu tư, quỹ đầu tư nước ngoài có thể tham gia mạnh mẽ hơn nữa vào quá trình tái cấu trúc ngành năng lượng và điện của Việt Nam, nhất là tham gia hợp tác đầu tư, chuyển giao công nghệ mới với các tập đoàn, doanh nghiệp nhà nước - “xương sống” trong ngành năng lượng và điện lực Việt nam”, chuyên gia Chính sách công nhấn mạnh.

Hội nghị thượng đỉnh P4G lần thứ tư tổ chức tại Hà Nội hồi tháng 4/2025 lan tỏa thông điệp “Chuyển đổi xanh bền vững, lấy con người làm trung tâm” của Việt Nam đến với bạn bè quốc tế. (Ảnh: Việt Hoàng)
Nghị quyết yêu cầu hoàn thiện chính sách tài chính theo hướng huy động tối đa nguồn vốn tư nhân và vốn đầu tư nước ngoài vào các dự án năng lượng; đổi mới chính sách tín dụng, ưu tiên vốn cho lĩnh vực năng lượng và có các gói tín dụng ưu đãi cho những dự án năng lượng xanh, sạch, công nghệ mới, hệ thống lưu trữ năng lượng cũng như nghiên cứu, phát triển và sản xuất thiết bị năng lượng trong nước.
Đây là điểm có ý nghĩa trực tiếp đối với quá trình xanh hóa nền kinh tế, bởi bài toán của năng lượng tái tạo không chỉ nằm ở tiềm năng nguồn điện mà còn ở khả năng huy động nguồn lực để biến tiềm năng thành các dự án cụ thể.
Không chỉ Nghị quyết 70-NQ/TW, Nghị quyết 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia tạo thêm một trụ cột quan trọng cho quá trình xanh hóa nền kinh tế.
Hay Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng cũng xác định tiếp tục chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, chuyển đổi năng lượng, đồng thời lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính, hướng tới mô hình tăng trưởng dựa trên năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh cao hơn.
Tiết kiệm năng lượng đóng vai trò như “van điều tiết” giúp nền kinh tế vận hành ổn định. Nếu đạt mức tiết kiệm 8-10% tổng tiêu thụ năng lượng, nền kinh tế có thể giảm đáng kể áp lực đầu tư vào các dự án nguồn điện mới, đồng thời tạo dư địa cho tăng trưởng.
“Nguồn năng lượng mới”, hiệu quả ngay lập tức
Tại Diễn đàn “Tiết kiệm năng lượng - cần sự chung tay của toàn xã hội” diễn ra hồi tháng 6/2026, Phó Trưởng phòng Hiệu quả năng lượng và Chuyển đổi xanh, Cục Đổi mới sáng tạo, Chuyển đổi xanh và Khuyến công (Bộ Công Thương) Hoàng Việt Dũng cho rằng, sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả là một trong những giải pháp quan trọng nhất để bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia trong dài hạn.
Theo ông Hoàng Việt Dũng, trước đây, khi nói đến an ninh năng lượng, chúng ta thường nghĩ đến việc phải phát triển thêm nguồn cung năng lượng như xây thêm nhà máy điện, hoặc đầu tư hạ tầng truyền tải. Tuy nhiên, trên thực tế, sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả là giải pháp có chi phí thấp nhất, hiệu quả nhanh nhất và mang lại đồng thời các lợi ích về kinh tế, môi trường và xã hội.
“Nếu chúng ta không sử dụng năng lượng hiệu quả, áp lực đầu tư vào nguồn điện, lưới điện và nhiên liệu sẽ ngày càng lớn”, ông Dũng nói.

Tiết kiệm năng lượng sẽ mang lại lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp. (Nguồn: VnEconomy)
Trong dài hạn, ông Dũng cho rằng, tiết kiệm năng lượng không phải là “thắt lưng buộc bụng” hay cắt giảm tiêu dùng một cách cơ học, mà là sử dụng một cách thông minh, hiệu quả hơn. Đây là giải pháp bền vững nhất giúp Việt Nam vừa phát triển kinh tế nhanh, vừa giữ vững chủ quyền và an ninh năng lượng trước mọi biến động của khí hậu toàn cầu.
TS. Nguyễn Trí Hiếu, chuyên gia Tài chính - Ngân hàng cũng đánh giá cao vai trò của tiết kiệm năng lượng trong nền kinh tế.
Ông nhận thấy, tiết kiệm năng lượng đóng vai trò như “van điều tiết” giúp nền kinh tế vận hành ổn định. Nếu đạt mức tiết kiệm 8-10% tổng tiêu thụ năng lượng, nền kinh tế có thể giảm đáng kể áp lực đầu tư vào các dự án nguồn điện mới, đồng thời tạo dư địa cho tăng trưởng.
“Phần chi phí tiết kiệm được có thể chuyển thành nguồn lực đầu tư công nghệ và nâng cao năng suất”, TS. Nguyễn Trí Hiếu nhấn mạnh.
Một khía cạnh quan trọng khác là tiết kiệm năng lượng có thể triển khai nhanh hơn nhiều so với việc xây dựng các nguồn cung mới. Trong khi các dự án điện lớn thường mất vài năm để hoàn thành, các giải pháp tiết kiệm năng lượng có thể áp dụng ngay với chi phí thấp.
Thực tế cho thấy, chi phí để tiết kiệm 1 kW công suất thấp hơn đáng kể so với chi phí sản xuất và truyền tải 1 kW điện mới. Vì vậy, ông Hiếu khẳng định, tiết kiệm năng lượng được xem như một “nguồn năng lượng mới” với hiệu quả ngay lập tức.

Hệ thống điện gió tại Quảng Trị. (Ảnh: Nguyễn Hồng)
Từ góc độ chính sách, việc kết hợp tăng nguồn cung với tiết kiệm năng lượng đang hình thành mô hình điều hành chủ động hơn.
Chính phủ sử dụng các công cụ thuế, quỹ bình ổn và đa dạng hóa nhập khẩu để bảo đảm nguồn cung, đồng thời khuyến khích doanh nghiệp và người dân giảm tiêu hao, tối ưu vận hành và chuyển đổi công nghệ. Khi các giải pháp này được triển khai đồng bộ, áp lực lên hệ thống năng lượng sẽ giảm đáng kể, qua đó củng cố nền tảng ổn định kinh tế vĩ mô.
Nhìn rộng hơn, tiết kiệm năng lượng không chỉ là giải pháp vượt qua biến động trước mắt mà còn mở ra dư địa tăng trưởng dài hạn. Khi chi phí năng lượng giảm, doanh nghiệp có thể giữ giá thành ổn định, nâng cao năng lực cạnh tranh và mở rộng thị trường. Đồng thời, nền kinh tế giảm phụ thuộc nhập khẩu, tăng khả năng chống chịu trước các cú sốc bên ngoài.
Với từng đơn vị năng lượng được sử dụng hiệu quả hơn, nền kinh tế cũng có thêm dư địa để tăng trưởng xanh, nâng cao năng lực cạnh tranh và thích ứng với những biến động mới. Bởi vậy, tiết kiệm năng lượng không chỉ là giải pháp trước mắt, mà chính là một trong những “đòn bẩy” quan trọng để kiến tạo nền kinh tế xanh và bền vững.
