Tư tưởng Hồ Chí Minh về bảo đảm lợi ích chân chính của dân tộc

Theo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, khi thực hiện chiến lược đại đoàn kết toàn dân tộc phải luôn đặt lợi ích chân chính của dân tộc lên trên hết, trước hết, “muốn làm gì cũng cần vì lợi ích của dân tộc mà làm”, “việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân phải hết sức tránh”.

Nghi thức rước đuốc và thắp sáng đài lửa truyền thống cách mạng tại lễ diễu binh, diễu hành kỷ niệm 80 năm Cách mạng Tháng Tám thành công và Quốc khánh 2-9. Ảnh: hanoimoi.vn

Nghi thức rước đuốc và thắp sáng đài lửa truyền thống cách mạng tại lễ diễu binh, diễu hành kỷ niệm 80 năm Cách mạng Tháng Tám thành công và Quốc khánh 2-9. Ảnh: hanoimoi.vn

Trong 40 năm đổi mới đất nước, Đảng ta đã vận dụng sáng tạo quan điểm của Người trong thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc, đó là: “luôn luôn vì lợi ích của dân tộc mà phục vụ”, “Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc”. Có thể khẳng định, lợi ích chân chính của dân tộc đang và sẽ tiếp tục là kim chỉ nam cho chính sách đại đoàn kết của Đảng và cách mạng Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về bảo đảm lợi ích chân chính của dân tộc trong thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc

Lợi ích luôn là nhân tố trung tâm chi phối chiến tranh và hòa bình, hợp tác và đấu tranh. Do đó, giải quyết vấn đề lợi ích chân chính của dân tộc một cách hợp lý vừa bảo đảm chiến lược đại đoàn kết toàn dân, yên lòng dân, vừa cân bằng và hài hòa với các mối quan hệ trên trường quốc tế.

Đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh, lợi ích chân chính của dân tộc là bao gồm toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần của dân tộc, phù hợp với quy luật phát triển của xã hội, đáp ứng yêu cầu của thời đại, phục vụ cho sự phát triển toàn diện của con người và cộng đồng, đảm bảo cho dân tộc ta trường tồn, phát triển và vượt qua những giai đoạn cam go nhất của lịch sử. Vì lợi ích chân chính của dân tộc, người Việt Nam sẵn sàng gạt bỏ hiềm khích cá nhân để “vua tôi đồng lòng, anh em hòa mục, nước nhà chung sức”[1]. Vì lợi ích chân chính của dân tộc, “người Việt Nam quyết không thể để mất một tấc đất của tiền nhân để lại”[2]. Vì lợi ích của dân tộc, “dù phải hy sinh đến đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập dân tộc”[3]. Vì lợi ích chân chính của dân tộc mà “chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất n­ước, nhất định không chịu làm nô lệ”[4].

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, lợi ích chân chính của dân tộc đầu tiên phải nói đến đó là độc lập dân tộc. Bởi, độc lập dân tộc là tiền đề cho mọi lợi ích khác, là vấn đề sống còn của dân tộc Việt Nam, là điều kiện cần thiết để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Trong lúc này quyền lợi dân tộc giải phóng cao hơn hết thảy. Chúng ta phải đoàn kết lại đánh đổ bọn đế quốc và bọn Việt gian đặng cứu giống nòi ra khỏi nước sôi lửa nóng”[5]. Điều này tiếp tục được thể hiện trong Hội nghị Trung ương lần thứ Tám (tháng 5-1941): “Trong lúc này, nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được”[6]. Khi thời cơ giành độc lập đến, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục khẳng định: “Trong lúc này quyền lợi dân tộc giải phóng cao hơn hết thảy”[7], quyền lợi của bộ phận, của giai cấp phải đặt dưới sự sinh tử, tồn vong của quốc gia, của dân tộc. Đặc biệt, trong Tuyên ngôn độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định một chân lý: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”[8]. Có thể khẳng định, quan điểm đặt lợi ích chân chính của dân tộc lên trên hết, lấy mục tiêu độc lập dân tộc là hàng đầu của Chủ tịch Hồ Chí Minh là hoàn toàn hợp quy luật, hợp lô-gíc phát triển của lịch sử cũng như truyền thống chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam. Đó cũng là khát khao cháy bỏng, nguyện vọng chính đáng của toàn thể dân tộc Việt Nam.

Quan điểm “đặt lợi ích chân chính của dân tộc lên trên hết, trước hết” của Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là đấu tranh giải phóng và bảo vệ nền độc lập của dân tộc, mà còn hướng tới lợi ích của nhân dân. Sau khi giành độc lập dân tộc phải xây dựng nhà nước mới mà nhà nước đó phải là nhà nước của dân, do dân và vì dân. Nhà nước đó phải thật sự dân chủ, công bằng, văn minh, nhà nước đó phải mang đến ấm no và hạnh phúc cho nhân dân, đúng như Người hằng mong muốn: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”[9]. Trong các tác phẩm, bài nói chuyện của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhiều lần đề cập đến vấn đề “lợi ích” và nhất quán quan điểm lợi ích của dân tộc, của Tổ quốc, của Đảng, của nhân dân là thống nhất: “Lợi ích của nhân dân tức là lợi ích của Đảng và phải đặt lợi ích của nhân dân và của Đảng lên trên hết, trước hết”[10]; “Vì lợi ích của Đảng tức là lợi ích của dân tộc, của Tổ quốc”[11]. Đây cũng chính là giá trị cốt lõi của quan điểm “đặt lợi ích dân tộc lên trên hết, trước hết” trong thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc mà Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn hướng tới.

Lịch sử cách mạng vẻ vang của Đảng Cộng sản Việt Nam, mọi thắng lợi vĩ đại của cách mạng Việt Nam đều gắn liền với tên tuổi và sự nghiệp Hồ Chí Minh. Ảnh tư liệu

Lịch sử cách mạng vẻ vang của Đảng Cộng sản Việt Nam, mọi thắng lợi vĩ đại của cách mạng Việt Nam đều gắn liền với tên tuổi và sự nghiệp Hồ Chí Minh. Ảnh tư liệu

Tóm lại, trên phương diện quốc gia dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhìn nhận lợi ích chân chính của dân tộc trước hết là độc lập, chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ, hòa bình, thống nhất đất nước cho dân tộc Việt Nam và tự do, hạnh phúc cho nhân dân. Trên phương diện quốc tế, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh quyền dân tộc, trong đó có quyền bình đẳng, quyền độc lập, tự chủ, tự do thực sự, quyền toàn vẹn lãnh thổ, thống nhất đất nước, quyền được sống trong hòa bình, quyền tự quyết của dân tộc. Đây là những lợi ích chân chính giúp cho dân tộc ta trường tồn và phát triển.

Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa đảm bảo lợi ích chân chính của dân tộc với thực hiện đại đoàn kết toàndân tộc

Đảm bảo lợi ích chân chính của dân tộc đóng vai trò then chốt, là mục tiêu, là động lực thúc đẩy thực hiện và củng cố chiến lược đại đoàn kết, là kim chỉ nam cho mọi hành động, tập hợp và phát huy sức mạnh của toàn dân tộc. Khi lợi ích dân tộc được đặt lên hàng đầu, mọi người sẽ có niềm tin, có động lực và cùng đồng lòng, chung sức đoàn kết xây dựng đất nước, bảo vệ Tổ quốc.

Bên cạnh đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, để thực hiện chiến lược đại đoàn kết toàn dân tộc thì lợi ích chân chính của dân tộc phải thống nhất với lợi ích của nhân dân, phải thực sự vì dân. Chính vì vậy, ngay sau khi chúng ta giành được độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã yêu cầu “việc gì lợi cho dân, ta phải hết sức làm. Việc gì hại đến dân, ta phải hết sức tránh”[12]. Chủ tịch Hồ Chí Minh thường xuyên căn dặn cán bộ để “Chính phủ với nhân dân đoàn kết thành một khối”[13], thì Đảng và Chính phủ “Phải chú ý giải quyết hết các vấn đề dầu khó đến đâu mặc lòng, những vấn đề quan hệ tới đời sống của dân. Phải chấp đơn, phải xử kiện cho dân mỗi khi người ta đem tới. Phải chăm lo việc cứu tế nạn nhân cho chu đáo, phải chú ý trừ nạn mù chữ cho dân. Nói tóm lại, hết thảy những việc có thể nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của dân phải được ta đặc biệt chú ý”[14]. Đồng thời, phải “luôn luôn đi sát với nhân dân, chăm lo đến đời sống của nhân dân, khéo tuyên truyền tổ chức, giáo dục và lãnh đạo nhân dân trong mọi việc. Cán bộ, chiến sĩ và nhân dân đoàn kết thành một khối, đồng cam cộng khổ, như anh em ruột thịt”[15], phải hướng dẫn nhân dân tổ chức tốt đời sống, tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm, từng bước cải thiện đời sống vật chất, tinh thần nhằm thỏa mãn nhu cầu cần thiết hằng ngày. “Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, của độc lập khi mà dân được ăn no, mặc đủ. Chúng ta phải thực hiện ngay: 1. Làm cho dân có ăn; 2. Làm cho dân có mặc; 3. Làm cho dân có chỗ ở; 4. Làm cho dân có học hành. Cái mục đích chúng ta đi đến là 4 điều đó. Đi đến để dân nước ta xứng đáng với tự do độc lập và giúp sức được cho tự do độc lập”[16]. Do đó, việc đáp ứng và thỏa mãn nhu cầu, lợi ích của nhân dân là tiêu chí quan trọng để xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, nguy hại nhất là khi được nhân dân ủy quyền, một số cán bộ, công chức “đã vác mặt làm quan cách mạng”, kéo bè, kéo cánh để thu vén lợi ích cá nhân. Vì ích kỷ, chủ nghĩa cá nhân mà trong bộ máy nhà nước từ Trung ương đến địa phương đã nảy sinh những “lỗi lầm rất nặng” làm biến dạng nhà nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh sớm cảnh báo những căn bệnh khá phổ biến, đó là trái phép, cậy thế, hủ hóa, tư túng, chia rẽ, kiêu ngạo. Đây chính là căn bệnh “giặc nội xâm” hết sức nguy hiểm và gây hậu họa nghiêm trọng, làm thất thoát tiền của nhà nước, chậm tốc độ phát triển, nhất là làm xói mòn niềm tin của dân, làm cho dân xa rời Nhà nước. Nhận thức và cảnh báo của Chủ tịch Hồ Chí Minh về các nguy cơ, căn bệnh phát sinh trong quá trình lãnh đạo của Đảng và Nhà nước và cách phòng tránh, khắc phục chúng ngày nay vẫn còn nguyên giá trị và có tính thời sự, soi đường chỉ lối cho cuộc đấu tranh chống tham nhũng đạt kết quả cao, đảm bảo cho Nhà nước ta thật sự phục vụ quyền lợi chân chính của nhân dân, trở thành công bộc, đầy tớ của dân. Đây là những yếu tố quan trọng trong thực hiện chiến lược đại đoàn kết toàn dân tộc.

Đại đoàn kết toàn dân tộc là nền tảng để đảm bảo lợi ích chân chính của dân tộc. Khi dân tộc đoàn kết, mọi người chung sức đồng lòng, tạo nên sức mạnh to lớn để đấu tranh bảo vệ Tổ quốc, giành độc lập, tự do, thống nhất và xây dựng đất nước. Đồng thời, nhờ có tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc mà các lợi ích chung của dân tộc được đề cao, tạo điều kiện để mỗi cá nhân phát huy tiềm năng, cống hiến cho cộng đồng, từ đó nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân. Điều này đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Đoàn kết là lực lượng mạnh nhất”, “đoàn kết là sức mạnh vô địch”, “Đoàn kết là sức mạnh, là then chốt của thành công”. Đoàn kết càng rộng rãi, chặt chẽ thì thắng lợi càng lớn. “Nhờ đại đoàn kết mà nhân dân Việt Nam đã đánh thắng chủ nghĩa thực dân, làm Cách mạng Tháng Tám thành công và đã kháng chiến thắng lợi. Nhờ đại đoàn kết toàn dân mà nước Việt Nam nhất định sẽ thống nhất” [17].

Người khẳng định: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công” [18]. Đại đoàn kết dân tộc là nền tảng vững chắc để đảm bảo lợi ích chân chính của dân tộc. Mỗi người dân Việt Nam cần ý thức được tầm quan trọng của đại đoàn kết, chung tay góp sức xây dựng và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, vì mục tiêu chung và lợi ích chân chính của dân tộc là “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Tóm lại, đảm bảo lợi ích chân chính của dân tộc và đại đoàn kết toàn dân tộc là hai mặt của một vấn đề, có mối quan hệ mật thiết, tương tác và hỗ trợ lẫn nhau. Đại đoàn kết toàn dân tộc là nền tảng để đảm bảo lợi ích chân chính của dân tộc, và ngược lại, đảm bảo lợi ích chân chính của dân tộc là mục tiêu và động lực thúc đẩy đại đoàn kết toàn dân tộc.

Đảng ta vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về bảo đảm lợi ích chân chính của dân tộc trong thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc giai đoạn hiện nay

Tư tưởng Hồ Chí Minh về bảo đảm lợi ích chân chính của dân tộc để thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc có ý nghĩa quan trọng trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Thấm nhuần quan điểm đó của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong suốt thời kỳ kháng chiến chống thực dân và đế quốc, Đảng luôn đặt lợi ích chân chính của dân tộc lên cao nhất nhằm mục tiêu đoàn kết toàn dân tộc với mục tiêu xuyên suốt là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Nhờ đó, Đảng dẫn dắt dân tộc tiến hành thành công hai cuộc kháng chiến, thu non sông về một mối.

Bước sang thời kỳ đổi mới, Đảng đã nhìn thẳng vào sự thật, đổi mới toàn diện, đưa đất nước vượt qua khủng hoảng, phá thế bao vây, cấm vận và từng bước hội nhập quốc tế, mở ra những vận hội mới cho đất nước bước vào kỷ nguyên mới.

Xuyên suốt những giai đoạn đó, tư duy của Đảng về lợi ích quốc gia - dân tộc có sự kế thừa, phát huy, phù hợp với bối cảnh quốc tế và tình hình trong nước. Ngay từ Hội nghị Trung ương 3, khóa VII (tháng 6-1992), Đảng ta đã đề ra một trong bốn phương châm xử lý các vấn đề quốc tế, đó là “bảo đảm lợi ích dân tộc chân chính”. Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XI đã lần đầu tiên chính thức khẳng định mục tiêu về lợi ích quốc gia - dân tộc. Đại hội XII của Đảng xác định: “Bảo đảm lợi ích tối cao của quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, bình đẳng và cùng có lợi…”[19]. Đại hội XIII của Đảng (tháng 1-2/2021) khẳng định: “Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi”[20].

Để hiểu đúng, đầy đủ và có thể vận dụng thành công quan điểm “đặt lợi ích dân tộc lên trên hết, trước hết” để thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bối cảnh hiện nay, Văn kiện Đại hội XIII, với 19 lần nhắc tới cụm từ “lợi ích quốc gia - dân tộc” thể hiện sự quan tâm sâu sắc và nhấn mạnh: “Trên tinh thần lợi ích quốc gia dân tộc là trên hết”[21]. Đảng ta, tiếp tục khẳng định lợi ích quốc gia - dân tộc là tối thượng, là mục tiêu cao nhất, quan trọng nhất, có ý nghĩa định hướng hoạt động trên tất cả các lĩnh vực, đặc biệt là trong chiến lược đại đoàn kết toàn dân tộc. Để xây dựng đại đoàn kết dân tộc, Văn kiện Đại hội XIII đã cụ thể hóa vấn đề lợi ích quốc gia dân tộc trên các lĩnh vực, địa bàn trọng tâm, trọng điểm “lợi ích quốc gia - dân tộc trên biển, trên không và trên bộ… lợi ích quốc gia trong lĩnh vực dầu khí, nghề cá, bảo hộ ngư dân”[22]. Như vậy, nội hàm phạm vi lợi ích quốc gia - dân tộc được toàn diện và cụ thể hơn trên tất cả các mặt kinh tế, chính trị, văn hóa…

Để tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, Đảng ta cần phát huy mạnh mẽ mọi nguồn lực, tiềm năng sáng tạo của nhân dân để bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc; lấy mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” làm điểm tương đồng. Tôn trọng những điểm mới không trái với lợi ích chung của quốc gia dân tộc; đề cao tinh thần dân tộc, truyền thống nhân nghĩa, khoan dung để tập hợp, đoàn kết mọi người Việt Nam, tăng cường quan hệ máu thịt giữa nhân dân với Đảng, Nhà nước, tạo sinh lực mới của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Xuyên suốt từ tư tưởng của Hồ Chí Minh đến quan điểm của Đảng luôn khẳng định một điều rằng, bảo đảm lợi ích quốc gia - dân tộc là vấn đề có tính nguyên tắc, “bất biến” trong thực hiện chiến lược đại đoàn kết toàn dân tộc. Theo đó, việc xác định, bảo đảm và tối đa hóa lợi ích quốc gia - dân tộc luôn là ưu tiên hàng đầu trong chiến lược đại đoàn kết toàn dân tộc.

Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trong thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc là quan điểm xuyên suốt chi phối việc hoạch định chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước. Những thành tựu của đất nước ngày hôm nay cho thấy quan điểm của Đảng đặt lợi ích quốc gia - dân tộc lên trên hết, trước hết để thực hiện chiến lược đại đoàn kết toàn dân tộc là hoàn toàn đúng đắn, sáng suốt.

--------------

[1] Trần Hưng Đạo bàn về sức mạnh của Đại Việt sau ba lần chiến thắng quân Nguyên - Mông. Vì việc nước, Trần Hưng Đạo và Trần Quang Khải đã gạt bỏ hiềm khích cá nhân với nhau;

[2] Đại Việt Sử ký Toàn thư, t. 2, Hoàng Văn Lâu dịch, GS Hà Văn Tấn hiệu đính, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1998;

[3] Võ Nguyên Giáp, Những chặng đường lịch sử, Nxb. CTQG, H. 1994, tr. 194;

[4]-[18] Hồ Chí Minh, Toàn tập, NXB Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011: [4] tập 4, tr. 480; [5]-[7] tập 3, tr. 230; [8] tập 4, tr. 3; [9] tập 4, tr. 161; [10] tập 8, tr. XIV; [11] tập 5, tr. 290; [12] tập 4, tr. 56-57; [13] tập 4, tr. 64; [14] tập 4, tr. 47-48; [15] tập 8, tr. 390; [16] tập 4, tr. 175; [17] tập 11, tr. 272; [18] tập 13, tr. 119;

[19] Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2016, tr. 153;

[20]-[22] Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, NXB Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021: [20] tập I, tr. 110; [21] tập II, tr. 282; [22] tập II, tr. 59-60.

Nguyễn Thị Hải Yến

Nguồn Hà Nội Mới: https://hanoimoi.vn/tu-tuong-ho-chi-minh-ve-bao-dam-loi-ich-chan-chinh-cua-dan-toc-1763504.html