Từ vụ làm sai lệch số liệu quan trắc môi trường: Cần tìm ra 'đường đi' của 'lách luật'

Liên quan đến vụ làm sai lệch số liệu quan trắc môi trường, GS Hoàng Xuân Cơ cho rằng, cần phải tìm ra 'đường đi' của 'lách luật', những ai tham gia và 'lợi ích' do 'lách' được luật vào tay ai?.

Đấu tranh 3 chuyên án liên quan đến quan trắc môi trường

Theo Bộ Công an, Cục Cảnh sát phòng, chống tội phạm về môi trường đã phối hợp Văn phòng Cơ quan Cảnh sát điều tra - Bộ Công an, Công an thành phố Hà Nội, Công an tỉnh Bắc Ninh xác lập, đấu tranh đồng thời 3 Chuyên án làm rõ các hành vi vi phạm trong lắp đặt, vận hành, quản lý các trạm quan trắc môi trường tự động, liên tục do một số doanh nghiệp lắp đặt trên phạm vi toàn quốc, như: Công ty CP thiết bị công nghiệp và công nghệ môi trường Deahan; Công ty CP tập đoàn Seiki; Công ty CP kỹ thuật môi trường Việt An; Công ty TNHH Minh Thành Group.

 Máy quan trắc bị can thiệp để chỉnh dữ liệu (Ảnh cắt từ clip của VTV).

Máy quan trắc bị can thiệp để chỉnh dữ liệu (Ảnh cắt từ clip của VTV).

Kết quả đến nay cơ quan điều tra đã chứng minh, làm rõ 168/306 trạm có sự can thiệp, chỉnh sửa dữ liệu phân tích môi trường (chiếm hơn 54,9% số trạm được kiểm tra). Cơ quan Cảnh sát điều tra các cấp đã khởi tố vụ án hình sự, khởi tố 74 bị can về 10 tội danh.

Các tội danh gồm: “Xâm nhập trái phép mạng máy tính, phương tiện điện tử của người khác”; “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”, “Vi phạm quy định về đấu thầu”; “Đưa hối lộ”, “Nhận hối lộ”; “Giả mạo trong công tác”, “Tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước”, “Tội trốn thuế”, “Vi phạm quy định về kế toán”, “Lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ”.

Trong số các bị can bị khởi tố có nhiều bị can giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý trong các cơ quan, đơn vị như Hoàng Văn Thức - Cục trưởng Cục Môi trường (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), Trần Thị Minh Hương - Giám đốc Trung tâm quan trắc môi trường miền Bắc, Lê Việt Cường - Phó Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Nhiệt điện Quảng Ninh.

Cơ quan điều tra bước đầu làm rõ phương thức, thủ đoạn can thiệp, chỉnh sửa kết quả quan trắc: (1) Can thiệp, chỉnh sửa từ xa bằng cách sử dụng phần mềm thông qua kết nối internet để chỉnh sửa; (2) Can thiệp trực tiếp bằng thủ đoạn vật lý, thủ công vào hệ thống hút mẫu, thiết bị phân tích tại trạm quan trắc.

Hiện Cục Cảnh sát phòng, chống tội phạm về môi trường đang phối hợp Văn phòng Cơ quan Cảnh sát điều tra - Bộ Công an, Công an thành phố Hà Nội và Công an tỉnh Bắc Ninh khẩn trương điều tra mở rộng, làm rõ bản chất vụ án, xử lý các đối tượng vi phạm theo quy định pháp luật; rà soát, thu hồi triệt để tài sản cho Nhà nước.

Trước sự việc trên, GS Hoàng Xuân Cơ - Trưởng ban Khoa học, Hội Kinh tế môi trường Việt Nam - đã có những đánh giá dưới góc độ kinh tế môi trường, nhìn nhận chuyên sâu về sự đánh đổi giữa chi phí tuân thủ và lợi ích, hệ lụy tới bức tranh kinh tế vĩ mô, thay vì chỉ nhìn nhận như một vụ án hình sự đơn thuần.

Cần tìm ra ‘đường đi’ của ‘lách luật’

Thưa GS Hoàng Xuân Cơ, sự việc làm sai lệch dữ liệu quan trắc môi trường vừa được cơ quan điều tra công bố thông tin bước đầu cho thấy đây không chỉ là những vi phạm đơn lẻ, mà có sự bắt tay giữa doanh nghiệp xả thải và chính đơn vị cung cấp thiết bị quan trắc. GS đánh giá như thế nào về vụ việc này?

GS Hoàng Xuân Cơ: Thật ra, khi các cơ quan chức năng yêu cầu các cơ sở sản xuất lắp đặt hệ thống đo chất lượng nước thải, khí thải khi xả ra môi trường cũng đã có hàm ý kiểm soát được mức xả thải ô nhiễm. Về nguyên tắc, các thiết bị đo phải đủ độ tin cậy, đủ độ chính xác, được các nhà khoa học kiểm định hoặc từ các nhà sản xuất có uy tín trên thế giới cung cấp. Số liệu đo tự động, liên tục ngay tại đầu ra xả thải của hệ thống thải sau xử lý (hệ thống xử lý nước thải, ống khói). Số liệu được đo tự động, liên tục (có thể vài phút hoặc từng giờ) có một số liệu ghi tự động vào file có thể lưu trữ và chuyển giao.

 GS Hoàng Xuân Cơ - Trưởng ban Khoa học, Hội Kinh tế môi trường Việt Nam.

GS Hoàng Xuân Cơ - Trưởng ban Khoa học, Hội Kinh tế môi trường Việt Nam.

Theo tôi biết, số liệu này định kỳ phải gửi về Sở Nông nghiệp và Môi trường cũng như Trung tâm Quan trắc môi trường. Với quy định như vậy thì rất khó làm sai số liệu và người quản lý chất lượng môi trường cũng yên tâm hơn.

Tuy nhiên, khi nồng độ chất ô nhiễm vượt quy chuẩn Việt Nam thì doanh nghiệp bị phạt khá nặng và chính họ là người biết điều đó đầu tiên. Họ biết xử lý ô nhiễm để đạt quy chuẩn Việt Nam rất tốn kém (ví dụ xử lý bụi bằng lọc bụi tĩnh điện rất tốn điện) nên nếu bớt xử lý thì sẽ đỡ tốn chi phí và để che mắt, người quản lý có thể dùng các giải pháp làm giả số liệu (đỡ tốn kém hơn). Đây là kiểu lách/vi phạm luật tương đối phổ biến.

Nhiều ý kiến cho rằng, nguyên nhân sâu xa khiến một số tập đoàn, nhà máy lớn chấp nhận rủi ro để “mua” chỉ số an toàn là bởi chi phí vận hành hệ thống xử lý chất thải thực tế cao hơn rất nhiều so với chi phí “lách luật” và mức phạt hành chính. GS đánh giá như thế nào về ý kiến trên? Theo GS, liệu rằng các doanh nghiệp đó đang có cái nhìn “méo mó” về bài toán “chi phí - lợi ích” trong vấn đề bảo vệ môi trường hay không?

GS Hoàng Xuân Cơ: Đúng, nhưng phải tìm ra ‘đường đi’ của ‘lách luật’ như thế nào, những ai tham gia và ‘lợi ích’ do ‘lách’ được luật vào tay ai?. Đây là điều mấu chốt cần làm rõ. Nếu cơ quan quản lý môi trường làm tốt (hoặc thuê làm), liên tục xử lý số liệu gửi về, tiến hành xử lý vi phạm thì họ (doanh nghiệp - PV) mới sợ còn làm qua loa thì họ sẽ tìm cách qua mặt ngay.

Chúng tôi không được rõ vi phạm cụ thể lần này nhưng cũng hình dung được cách thức vi phạm. Về thiết bị đo, họ có thể sử dụng những loại kém chất lượng, có thể can thiệp được để dễ bề thao túng. Về số liệu gửi về, nếu không quản lý tốt họ có thể vào để chỉnh sửa, với kỹ thuật bây giờ thì có lẽ không khó lắm. Tuy nhiên, nếu cơ quan quản lý có tâm, có tầm và đủ quyền lực thì có thể ngăn chặn, có thể phát hiện sớm để cảnh báo.

Tôi đã từng đứng cùng một cán bộ quản lý môi trường, người ấy chỉ lên ống khói nói rằng, dân kêu nhưng nhà máy nói không có vấn đề gì và chúng tôi chả biết giải quyết thế nào cả. Thật ra vấn đề này không khó lắm, khi xảy ra vấn đề, chỉ cần nhìn số lượng điện phục vụ xử lý sẽ biết họ có xử lý tốt không (theo nguyên lý kiểm toán môi trường). Như vậy, vì lợi ích, doanh nghiệp có thể vi phạm, làm sai số liệu nhưng những người quản lý môi trường, quản lý số liệu này cũng có phần tiếp tay cho họ khi lơ là kiểm soát.

Tính minh bạch là điểm nghẽn chung của cả nền kinh tế

Chúng ta đang trong giai đoạn quyết liệt chuyển đổi sang nền kinh tế xanh. Như PGS.TS Nguyễn Thế Chinh từng chia sẻ, cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM) là động lực bắt buộc từ bên ngoài buộc Việt Nam phải “xanh hóa” nền kinh tế, hiện đại hóa công nghiệp nếu không muốn bị loại khỏi chuỗi giá trị toàn cầu. Khi các hàng rào tiêu chuẩn quốc tế như CBAM bắt đầu có hiệu lực, tính minh bạch và độ tin cậy của dữ liệu môi trường, dữ liệu phát thải là yếu tố sống còn. Vậy, việc số liệu quan trắc trong nước bị làm sai lệch quy mô lớn sẽ ảnh hưởng như thế nào đến năng lực cạnh tranh và uy tín xuất khẩu của hàng hóa Việt Nam trên trường quốc tế, thưa GS Hoàng Xuân Cơ?

GS Hoàng Xuân Cơ: Tôi nghĩ CBAM cần nhiều loại số liệu một lúc chứ không phải chỉ một số liệu quan trắc mức thải. Lúc đầu, họ yêu cầu doanh nghiệp cung cấp tính toán của mình rồi chỉ ra mức phát thải khí nhà kính trên một đơn vị sản phẩm. Họ sẽ có chuyên gia kiểm tra cách tính và họ cũng yêu cầu doanh nghiệp cung cấp nhiều loại số liệu “thô” khác để làm đầu vào cho cách tính toán của họ. Khi kết quả tính toán của doanh nghiệp quá khác với cách tính của họ thì sẽ có trao đổi để có đi đến mức phát thải mà đơn vị mua sản phẩm có áp dụng CBAM chấp nhận được để mua sản phẩm hay sản phẩm bị từ chối.

Ở Việt Nam hiện có nhiều cơ sở tuyên bố có thể giúp doanh nghiệp tính toán mức thải nhưng chưa chắc đã được cơ chế CBAM chấp nhận. Vì vậy, cách tính, cụ thể hơn là cách kiểm kê khí nhà kính của Việt Nam, cần mời các chuyên gia quốc tế nhiều kinh nghiệm tham gia hoặc tốt hơn cả là nhờ tổ chức quốc tế tính hộ để được cơ chế CBAM công nhận. Tương tự như vậy, tín chỉ giảm thải khí nhà kính cũng cần áp dụng cách tính mà các cơ sở có uy tín quốc tế thẩm định để được công nhận trong các giao dịch.

Dữ liệu minh bạch là nền tảng của hệ thống MRV (Đo lường, Báo cáo và Xác minh). PGS.TS Nguyễn Thế Chinh có lần đã chia sẻ trên Tạp chí Kinh tế Môi trường rằng, điểm yếu của doanh nghiệp Việt khi tham gia “cuộc chơi” CBAM là chưa có hệ thống MRV khí thải đạt chuẩn. Vụ việc làm sai lệch kết quả quan trắc môi trường trên liệu có làm cho “niềm tin dữ liệu” trở nên mong manh hơn không? Liệu rằng vụ việc trên có tạo ra rào cản lớn, làm chậm tiến trình xây dựng và vận hành thị trường tín chỉ carbon nội địa mà Việt Nam đang nỗ lực triển khai hay không, thưa GS Hoàng Xuân Cơ?

GS Hoàng Xuân Cơ: Thật ra, tính minh bạch đang là điểm nghẽn không chỉ đối với áp dụng CBAM của Việt Nam mà còn là điểm nghẽn chung của cả nền kinh tế. Có lẽ đây là điểm mà nhiều nước (trong đó có Mỹ) chưa công nhận kinh tế thị trường của Việt Nam.

Theo tôi đây chỉ là một trong số rào cản. Rào cản lớn nhất là chúng ta chưa tiến hành kiểm kê được chất thải, chưa xây dựng được cơ sở dữ liệu về chất thải, cả khí thải, nước thải, chất thải rắn, khí nhà kính. Có lẽ cần có “chiến dịch” lớn tiến hành công tác này từ nay đến cuối năm 2030 để chúng ta có cơ sở dữ liệu chỉ rõ ai/cơ sở nào xả thải, xả thải bao nhiêu trong từng giai đoạn.

Cần sự vào cuộc của các nhà khoa học chuyên ngành

Trong vụ án trên, theo công bố ban đầu, ngay cả những thiết bị đã được niêm phong, có camera giám sát độc lập vẫn bị can thiệp phần mềm từ xa để biến các chỉ số vượt ngưỡng thành đạt chuẩn. Theo GS, lỗ hổng lớn nhất ở đây nằm ở công nghệ giám sát hay do thiếu kiểm tra chéo của các cơ quan quản lý nhà nước?

GS Hoàng Xuân Cơ: Quả thật, với trình độ khoa học, công nghệ hiện nay, việc nhiều hacker có thể mở khóa vào các tập tin không còn mới nhưng với những người quản lý đủ tầm thì không dễ gì qua mặt được. Kiểm tra chéo là phương án hay. Nhưng rõ ràng vấn đề này phải có sự vào cuộc của các nhà khoa học chuyên ngành, của Cảnh sát môi trường, của cộng đồng cư dân nữa.

Cư dân là người phát hiện những dấu hiệu vi phạm (ban đêm và ban ngày khói thải khác nhau chẳng hạn); Cảnh sát phòng, chống tội phạm về môi trường có thể vào doanh nghiệp kiểm tra nhưng nhà khoa học sẽ giúp kiểm tra chỗ nào, lấy số liệu gì và tiến hành tính toán ra sao để làm rõ mức vi phạm. Đây là điều chúng ta chưa làm được.

Theo GS, có giải pháp căn cơ nào để ngăn chặn triệt để tình trạng này không?

GS Hoàng Xuân Cơ: Căn cơ nhất là phải có hệ thống quản lý môi trường đủ mạnh, có nhà quản lý môi trường đủ tâm, đủ tầm, đủ quyền, đủ lực thì mới ngăn chặn được ngay từ khi nó chưa hoặc mới bắt đầu phát sinh. Và, dứt khoát phải có cơ chế huy động được sự vào cuộc của các nhà khoa học chuyên ngành.

Cơ chế chi tiêu cho quản lý môi trường, cải thiện chất lượng môi trường, ngăn chặn rủi ro, vi phạm môi trường (cả từ nguồn ngân sách lẫn nguồn doanh nghiệp, nguồn xã hội hóa) vẫn là điểm nghẽn, chưa có mức chi đúng, chi đủ để thực hiện được những dự án bảo vệ môi trường, cải thiện chất lượng môi trường hiện nay.

Xin cảm ơn GS Hoàng Xuân Cơ!

Thùy Đặng

Nguồn Kinh tế Môi trường: https://kinhtemoitruong.vn/tu-vu-lam-sai-lech-so-lieu-quan-trac-moi-truong-can-tim-ra-duong-di-cua-lach-luat-109701.html