Tục kết chạ và di sản nghìn năm ở một làng quê

Sáng 19/7/2026, tại Đình làng Vạn Phúc (thôn 1 Vạn Phúc, xã Nam Phù, Hà Nội), Lễ kỷ niệm 1.000 năm nghĩa tình kết chạ giữa làng Vạn Phúc và làng Nga My đã diễn ra trong không gian linh thiêng của ngôi đình cổ - nơi lưu giữ ký ức cộng đồng và những giá trị văn hóa được bồi đắp qua nhiều thế kỷ.

Lễ hội làng Vạn Phúc.

Lễ hội làng Vạn Phúc.

Một tập tục đẹp duy trì suốt 1.000 năm

Suốt một thiên niên kỷ đi qua, tục kết chạ giữa hai làng Vạn Phúc (thuộc xã Vạn Phúc, huyện Thanh Trì cũ, nay thuộc xã Nam Phù, Hà Nội) và làng Nga My (thuộc xã Thanh Mai, huyện Thanh Oai cũ, nay thuộc xã Thanh Oai, Hà Nội) đã được lưu truyền như một biểu tượng đẹp của tinh thần đoàn kết, nghĩa tình của người Việt Nam.

Tục kết chạ (còn gọi là kết nghĩa, ăn chạ, đi chạ, đi nước nghĩa hay giao hiếu…) là một trong những phong tục lâu đời và giàu giá trị nhân văn của cư dân vùng đồng bằng Bắc Bộ.

Theo thần phả và truyền thuyết lưu truyền trong dân gian, tục kết chạ được hình thành từ thời vua Lý Thái Tổ sau khi dời đô ra Thăng Long. Tương truyền, đoạn đê Đỉnh Nhĩ ở phía Nam kinh thành liên tục bị vỡ trong nhiều năm, gây lụt lội, mất mùa và ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống nhân dân. Sau khi nhà vua ban chiếu huy động dân làng Vạn Phúc tham gia đắp đê, công việc mới hoàn thành. Biết được người dân Vạn Phúc đã thay mình gánh vác việc hộ đê trên địa phận của Nga My, dân làng Nga My đã xin được kết nghĩa giao hảo để từ đó hai làng cùng giúp đỡ nhau trong lao động, sản xuất, phòng chống thiên tai và tổ chức đời sống cộng đồng. Mối giao hảo ấy được nhà vua chuẩn thuận và trở thành một tục lệ bền vững kéo dài suốt nhiều thế kỷ.

Từ truyền thuyết ấy, một phong tục mang đậm tính nhân văn đã hình thành. Người dân hai làng tôn nhau là "quan anh", xưng "quan em"; trai gái hai làng không kết hôn vì coi nhau như anh em một nhà; vào mỗi dịp lễ hội đều cử đoàn đại diện sang thăm hỏi, cùng tế lễ Thành hoàng, cùng kiểm tra đê điều, chia sẻ công việc chung của cộng đồng. Đó là một hình thức "kết nghĩa cộng đồng" rất đặc sắc, phản ánh tư tưởng "đồng cam cộng khổ", cùng nhau bảo vệ sự sống của cư dân vùng châu thổ sông Hồng.

Trong tài liệu Thông báo Hán Nôm học 2011 của PGS.TS Bùi Xuân Đính (Viện Dân tộc học) và TS Nguyễn Thu Hiền (Bảo tàng Hà Nội) đã công bố hệ thống bảy văn bản Hán Nôm còn lưu giữ tại đình làng Nga My và Vạn Phúc, có niên đại từ thời Tự Đức đến Bảo Đại. Đây là những tư liệu quý phản ánh sinh động cách thức duy trì tục kết chạ trong đời sống làng xã qua nhiều triều đại.

Các văn bản không chỉ ghi chép việc mời nhau dự hội, xin phép triều đình tổ chức lễ nghênh thần, quy định nghi thức đón tiếp giữa hai làng, mà còn lưu lại những minh chứng cảm động về sự tương trợ lẫn nhau. Khi đình làng Vạn Phúc bị lũ sông Hồng làm hư hại vào cuối thế kỷ XIX, người dân Nga My đã quyên góp tiền của, lễ vật để chung tay tu sửa. Ngược lại, khi Nga My trùng tu đình làng hay được phong sắc Thành hoàng, người dân Vạn Phúc cũng mang lễ vật sang chúc mừng, bái tạ thần linh và tri ân "Quan anh". Những văn bản ấy cho thấy tục kết chạ không phải là một nghi lễ hình thức, mà là mối quan hệ cộng đồng được thực hành liên tục trong đời sống xã hội, từ việc lớn của làng đến những biến cố của từng cộng đồng cư dân.

GS Lê Văn Lan thăm đình làng Vạn Phúc.

GS Lê Văn Lan thăm đình làng Vạn Phúc.

Một di sản hiếm có

Nhà sử học Lê Văn Lan cho rằng, trong kho tàng văn hóa làng xã Việt Nam, tục kết chạ giữa Vạn Phúc và Nga My là một trường hợp đặc biệt hiếm có. Theo ông, điều đáng quý trước hết là niên đại hàng thiên niên kỷ, gắn với thời kỳ đầu xây dựng kinh đô Thăng Long dưới triều Lý. Hiếm có một mối giao hảo nào của cư dân đồng bằng Bắc Bộ được duy trì liên tục trong khoảng thời gian dài như vậy.

Ông nhấn mạnh: “Sự tương hỗ, giúp đỡ thân thiết với nhau giữa làng Vạn Phúc và Nga My có những giá trị rất đặc biệt. Thứ nhất, thông thường những làng kết nghĩa thường ở gần nhau, ở hai bên một dòng sông để dòng nước trở thành cây cầu nối liền, đưa các làng xích lại gần nhau. Nhưng Vạn Phúc và Nga My lại cách nhau rất xa. Ngày nay đo trên không gian là khoảng 30 km, nhưng từ xưa, khoảng cách ấy là biết bao hiểm trở, ngăn cách. Vậy mà hai làng vẫn tìm đến với nhau. Đó là giá trị quý giá đầu tiên. Thứ hai, những làng kết nghĩa mà chúng ta biết hiện nay thường có lịch sử khoảng 200 - 300 năm, từ thế kỷ XVIII, XIX. Nhưng giữa Vạn Phúc và Nga My, mối duyên, mối tình, sự liên kết, kính trọng, đồng hành và giúp đỡ lẫn nhau đã có đến con số một nghìn năm. Đó là một giá trị vô cùng tuyệt vời.”

Theo nhà sử học Lê Văn Lan, giá trị lớn nhất của tục kết chạ không nằm ở những nghi lễ hay quy ước được lưu truyền, mà ở tinh thần nhân văn được kết tinh trong đó. Đó là triết lý sống "có trước có sau", coi trọng nghĩa tình hơn lợi ích, lấy cộng đồng làm nền tảng để xây dựng cuộc sống bền vững. Chính vì vậy, tục kết chạ Vạn Phúc - Nga My không chỉ là một phong tục cổ, mà còn là bài học văn hóa vẫn còn nguyên giá trị đối với xã hội hôm nay.

Lễ kỷ niệm 1.000 năm nghĩa tình giao hảo Vạn Phúc - Nga My và chương trình nghệ thuật sử thi "Vạn Phúc - Nga My: Làng cổ bao đời, sáng ngời sử tích" được tổ chức với mong muốn khơi dậy niềm tự hào về truyền thống quê hương, đồng thời lan tỏa những giá trị tốt đẹp của văn hóa Việt Nam trong đời sống đương đại. Việc tổ chức lễ kỷ niệm ngay tại không gian di sản đã tạo nên sự kết nối giữa lịch sử và hiện tại, giữa ký ức cộng đồng với đời sống đương đại.

Đây không chỉ là một sự kiện văn hóa có ý nghĩa đối với người dân hai làng Vạn Phúc và Nga My, mà còn là dấu mốc quan trọng trong hành trình gìn giữ và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của Thủ đô Hà Nội và vùng đồng bằng Bắc Bộ.

Mai Anh

Nguồn Đại Đoàn Kết: https://daidoanket.vn/tuc-ket-cha-va-di-san-nghin-nam-o-mot-lang-que.html