Ứng dụng công nghệ số: Khi sân khấu chuyển mình trong kỷ nguyên số

Công nghệ số đang mở rộng không gian sáng tạo, thay đổi phương thức dàn dựng và cách tiếp cận công chúng. Nhưng công nghệ không thể thay thế kỹ năng, cảm xúc và bản lĩnh của nghệ sĩ. Để những giải pháp hiện đại thực sự trở thành động lực đổi mới, các đơn vị nghệ thuật cần đồng thời thay đổi tư duy sáng tạo, đầu tư cho con người, xây dựng dữ liệu văn hóa và hoàn thiện cơ chế hợp tác.

Tại tọa đàm "Ứng dụng công nghệ số trong hoạt động nghệ thuật biểu diễn – Những vấn đề đặt ra từ thực tiễn", do Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) tổ chức ngày 22/10 tại Hà Nội, câu chuyện chuyển đổi số được nhìn nhận từ chính quá trình sáng tạo và biểu diễn. Những kinh nghiệm của các nhà hát, nghệ sĩ, đạo diễn và doanh nghiệp công nghệ cho thấy, thích ứng với công nghệ không đơn thuần là đưa thiết bị hiện đại lên sân khấu, mà là quá trình thay đổi toàn diện cách làm nghệ thuật, từ hình thành ý tưởng, tập luyện, tổ chức sản xuất đến phân phối tác phẩm và kết nối khán giả. Xu hướng này góp phần mở rộng không gian sáng tạo, nâng cao giá trị sản phẩm văn hóa, đồng thời thể hiện tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW về thúc đẩy khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, hướng tới phát triển công nghiệp văn hóa hiện đại, giàu bản sắc và hội nhập.

Quang cảnh cuộc toạ đàm "Ứng dụng công nghệ số trong hoạt động nghệ thuật biểu diễn – Những vấn đề đặt ra từ thực tiễn". Ảnh: BTC

Quang cảnh cuộc toạ đàm "Ứng dụng công nghệ số trong hoạt động nghệ thuật biểu diễn – Những vấn đề đặt ra từ thực tiễn". Ảnh: BTC

Công nghệ phải bắt đầu từ tư duy sáng tạo

Từ thực tiễn của Liên đoàn Xiếc Việt Nam, NSND Tống Toàn Thắng, Giám đốc Liên đoàn, cho rằng ứng dụng công nghệ số trước hết đòi hỏi sự thay đổi tư duy của người đứng đầu, đạo diễn và ê-kíp sáng tạo. Công nghệ cần được tính đến ngay từ khi hình thành ý tưởng, xây dựng kịch bản, thay vì đợi tác phẩm hoàn thiện rồi mới tìm hình ảnh đưa vào minh họa.

Hơn 10 năm trước, khi tham khảo các chương trình nghệ thuật ở nước ngoài, những người làm xiếc Việt Nam đã trăn trở về khả năng tạo ra các sản phẩm có chất lượng tương xứng với thế giới, trong điều kiện Việt Nam có đội ngũ nghệ sĩ chuyên nghiệp, tài năng. Tuy nhiên, từ mong muốn đến thực hiện là một khoảng cách không nhỏ, bởi công nghệ biểu diễn đòi hỏi sự tương thích giữa thiết bị, không gian sân khấu, ánh sáng, âm thanh và đặc thù vận động của nghệ sĩ.

Rạp Xiếc Trung ương được xây dựng khoảng 35 năm trước, khi những yêu cầu về trình chiếu hiện đại chưa được đặt ra như hiện nay. Để đưa hình ảnh lên mái vòm, Liên đoàn phải phối hợp với đối tác công nghệ thử nghiệm trực tiếp, đánh giá bề mặt trình chiếu, khả năng đáp ứng của không gian và thiết bị. Quá trình này kéo theo việc điều chỉnh hệ thống đèn, đầu tư hệ thống treo có thể nâng, hạ để lắp đặt thiết bị, xử lý sự tương thích giữa ánh sáng sân khấu và hình ảnh trình chiếu. Âm thanh, độ dội âm và điều kiện cơ sở vật chất cũng ảnh hưởng trực tiếp đến trải nghiệm của khán giả.

Từ thực tiễn ấy, NSND Tống Toàn Thắng nhấn mạnh: "Có thiết bị chưa đồng nghĩa với việc khai thác hiệu quả". Theo ông, đầu tư công nghệ phải phù hợp với từng nhà hát, từng không gian và bảo đảm tính đồng bộ.

Sân khấu tròn của Rạp Xiếc Trung ương được cải tạo thành sân khấu nước, tạo thêm không gian biểu đạt và tương tác cho nghệ sĩ trong vở xiếc "Sơn thần thủy quái". Ảnh: Khánh Hoà - TTXVN

Sân khấu tròn của Rạp Xiếc Trung ương được cải tạo thành sân khấu nước, tạo thêm không gian biểu đạt và tương tác cho nghệ sĩ trong vở xiếc "Sơn thần thủy quái". Ảnh: Khánh Hoà - TTXVN

Trong vở xiếc "Sơn thần thủy quái", công nghệ đã mở ra cách tiếp cận mới so với phương thức dàn dựng câu chuyện Sơn Tinh, Thủy Tinh cách đây 20 năm. Những không gian núi rừng, đại dương được tái hiện bằng hình ảnh, giúp nghệ sĩ hóa thân vào câu chuyện, đồng thời đưa khán giả đến gần hơn với ngôn ngữ biểu đạt của sân khấu đương đại.

Dẫu vậy, công nghệ không phải yếu tố quyết định toàn bộ giá trị tiết mục. Theo NSND Tống Toàn Thắng, những khoảnh khắc khiến khán giả nín thở, hồi hộp rồi vỡ òa vẫn đến từ kỹ năng và bản lĩnh của nghệ sĩ. Công nghệ hỗ trợ tổ chức tiết tấu, lựa chọn động tác có giá trị để tạo điểm nhấn, đồng thời giúp phân bổ sức lực hợp lý hơn trong tiết mục.

Điều này cho thấy, hiệu quả ứng dụng công nghệ phải được đánh giá từ khả năng phục vụ ý tưởng nghệ thuật và nâng cao chất lượng biểu diễn, chứ không chỉ ở mức độ hiện đại của thiết bị hay sự hoành tráng của hình ảnh.

Nếu với đạo diễn và đơn vị nghệ thuật, công nghệ đặt ra yêu cầu đổi mới tư duy dàn dựng, thì với nghệ sĩ trực tiếp biểu diễn, đó còn là quá trình thích nghi về kỹ thuật, tâm lý và phương pháp thể hiện.

Vở xiếc "Sơn thần thuỷ quái" với sự kết hợp của công nghệ, thiết kế sân khấu, âm thanh, ánh sáng và kỹ thuật xiếc, tạo không gian biểu đạt mới và nâng cao trải nghiệm của khán giả. Ảnh: Khánh Hoà - TTXVN

Vở xiếc "Sơn thần thuỷ quái" với sự kết hợp của công nghệ, thiết kế sân khấu, âm thanh, ánh sáng và kỹ thuật xiếc, tạo không gian biểu đạt mới và nâng cao trải nghiệm của khán giả. Ảnh: Khánh Hoà - TTXVN

Diễn viên Thu Hương, Liên đoàn Xiếc Việt Nam, cho biết dù đã tham gia nhiều cuộc thi quốc tế và giành giải thưởng, khi biểu diễn trong "Sơn thần thủy quái", "Kỳ Yến - Bữa tiệc diệu kỳ", chị vẫn phải học hỏi và thích nghi với những yêu cầu mới.

"Công nghệ không giúp chúng tôi quay thêm vòng hay bớt đau khi thực hiện động tác, nhưng có thể làm nổi bật nghệ sĩ, hỗ trợ biểu đạt và tạo thêm cảm xúc trên sân khấu" - Thu Hương chia sẻ.

Khó khăn đầu tiên mà nữ diễn viên gặp phải là ánh sáng. Trong biểu diễn xiếc truyền thống, sân khấu thường được chiếu sáng rõ để nghệ sĩ quan sát, kiểm soát động tác và bảo đảm an toàn. Khi kết hợp công nghệ mapping, ánh sáng phải được điều chỉnh để hình ảnh trình chiếu đạt hiệu quả, khiến không gian biểu diễn tối hơn. Với diễn viên thực hiện động tác trên cao, hạn chế tầm nhìn có thể gây lo lắng, ảnh hưởng đến tâm lý và sự tập trung.

"Diễn viên phải trao đổi trực tiếp với lãnh đạo và đội ngũ công nghệ về từng vị trí, từng đoạn cần bổ sung ánh sáng. Phía kỹ thuật tiếp tục điều chỉnh để nghệ sĩ quan sát, thực hiện động tác mà vẫn giữ được hiệu quả trình chiếu. Ngay cả khi đã tập luyện, biểu diễn trước khán giả vẫn có khác biệt, đòi hỏi sự phối hợp được hoàn thiện qua thực tế" – diễn viên Thu Hương chia sẻ.

Như vậy, công nghệ không làm giảm yêu cầu đối với nghệ sĩ mà mở rộng phạm vi năng lực cần có. Bên cạnh kỹ năng chuyên môn, người biểu diễn phải thích nghi với những phương thức thể hiện mới, hiểu vai trò của hình ảnh, ánh sáng và âm thanh trong tổng thể tác phẩm, đồng thời duy trì sự chủ động trước những tình huống phát sinh trên sân khấu.

"Chuyển đổi số, ứng dụng công nghệ số là xu thế phát triển chung của toàn xã hội. Và cũng như các lĩnh vực khác, nghệ thuật biểu diễn không nằm ngoài xu thế tất yếu đó. Trong thời gian qua, ứng dụng công nghệ số trong nghệ thuật biểu diễn đã được nhiều đơn vị nghệ thuật quan tâm, đẩy mạnh, từ khâu sáng tác, dàn dựng đến biểu diễn, quảng bá, truyền thông và kết nối khán giả. Đặc biệt, từ sau đại dịch COVID-19, điều này trở nên rõ nét hơn bao giờ hết. Không chỉ là việc bán vé qua mạng, quảng bá chương trình qua các nền tảng xã hội, mà nhiều chương trình nghệ thuật còn được chuyển tải trên nền tảng số đến với đông đảo người xem; các ứng dụng thực tế ảo (VR), thực tế tăng cường (AR), trí tuệ nhân tạo, công nghệ 3D Maping, âm thanh, ánh sáng công nghệ hiện đại …đã được sử dụng, đầu tư, đưa các chương trình nghệ thuật đến gần hơn với công chúng, góp phần bồi đắp tư tưởng, tình cảm và làm phong phú đời sống tinh thần của các tầng lớp nhân dân. Tiến trình chuyển đổi số, ứng dụng công nghệ số đã thay đổi phương thức sáng tạo, tư duy quản lý của các đơn vị nghệ thuật, từ đó giúp các đơn vị có điều kiện nâng cao nguồn thu, tái đầu tư chương trình, vở diễn" - Nhà báo Hoàng Hà - Tổng biên tập Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật phát biểu đề dẫn cuộc toạ đàm.

Côngnghệ không thể thay thế ngôn ngữ nghệ thuật

Một trong những vấn đề được đặt ra tại tọa đàm là lựa chọn công nghệ phù hợp với đặc thù từng loại hình nghệ thuật. Cùng một giải pháp có thể tạo hiệu quả nổi bật ở không gian này nhưng chưa chắc phù hợp với không gian khác. Quan trọng hơn, công nghệ phải làm rõ giá trị nghệ thuật chứ không khiến bản sắc của loại hình bị lu mờ.

NSND Nguyễn Tiến Dũng, Giám đốc Nhà hát Múa rối Việt Nam, cho rằng múa rối có những yêu cầu thẩm mỹ riêng, cần sự tinh tế trong từng chuyển động. Nhân vật rối có thể rất nhỏ, nhưng chính sự khéo léo trong điều khiển, tạo hình và chuyển động lại làm nên sức hấp dẫn của loại hình nghệ thuật này. Nếu hình ảnh trình chiếu quá lớn, quá mạnh, công nghệ có thể lấn át con rối, khiến khán giả không còn tập trung vào giá trị cốt lõi của tiết mục.

Các tiết mục do các nghệ sĩ Nhà hát Múa rối Việt Nam biểu diễn. Ảnh: Khánh Hoà - TTXVN

Các tiết mục do các nghệ sĩ Nhà hát Múa rối Việt Nam biểu diễn. Ảnh: Khánh Hoà - TTXVN

Bởi vậy, với múa rối, nhiệm vụ của công nghệ là hỗ trợ, làm nổi bật cái hay, cái đẹp và sự độc đáo của con rối, chứ không thay thế nghệ thuật điều khiển rối. Đây cũng là nguyên tắc có ý nghĩa đối với các loại hình sân khấu truyền thống khác: đổi mới phương thức biểu đạt nhưng không đánh mất ngôn ngữ nghệ thuật đã được hình thành và bồi đắp qua nhiều thế hệ.

NSND Trung Hiếu, Giám đốc Nhà hát Kịch Hà Nội thì nhấn mạnh vai trò của năng lực sáng tạo, tổ chức sản xuất và khai thác nguồn lực. Khi nhà hát được sửa chữa năm 2019, đơn vị đã đề xuất cải tạo không gian, xây dựng sân khấu quay và hệ thống nâng, hạ. Do phải triển khai trên kết cấu sẵn có, nhiều ý tưởng phải điều chỉnh. Hệ thống cuối cùng gồm hai vòng đồng tâm, đường kính khoảng 8m và 3m, có thể quay ngược chiều; phần sân khấu nhỏ bên trong nâng khoảng 70–80cm.

Ê-kíp mất gần một năm phối hợp với đội ngũ cơ khí tìm tòi, thử nghiệm. Khi đưa vào sử dụng, hệ thống vẫn cần được bảo dưỡng thường xuyên do ảnh hưởng của thời tiết, độ co ngót vật liệu và tải trọng. Điều đó cho thấy đầu tư công nghệ phải tính đến toàn bộ vòng đời của thiết bị, từ thiết kế, thi công đến vận hành và bảo trì.

Vở “Huyền tích Hồ Gươm” - tác phẩm kết hợp nghệ thuật sân khấu với công nghệ AI, gợi mở những giá trị lịch sử, văn hóa gắn với hồ Hoàn Kiếm và khát vọng hòa bình của dân tộc. Ảnh: Khánh Hoà - TTXVN

Vở “Huyền tích Hồ Gươm” - tác phẩm kết hợp nghệ thuật sân khấu với công nghệ AI, gợi mở những giá trị lịch sử, văn hóa gắn với hồ Hoàn Kiếm và khát vọng hòa bình của dân tộc. Ảnh: Khánh Hoà - TTXVN

Gần đây, với vở diễn "Huyền tích Hồ Gươm", Nhà hát Kịch Hà Nội phối hợp với đạo diễn Khải Anh và đơn vị công nghệ, kết hợp hình ảnh AI với diễn xuất trực tiếp. Những cảnh chiến trận, Lê Lai cứu chúa và không gian gắn với sự tích trả gươm được tính toán để mở rộng bối cảnh trên sân khấu có diện tích hạn chế, tạo sức hấp dẫn với khán giả trẻ.

Tuy nhiên, theo NSND Trung Hiếu, sân khấu có tính ước lệ và nhịp điệu riêng, vì vậy hình ảnh công nghệ phải nằm trong một phương án dàn dựng thống nhất. Từ thực tiễn xây dựng tác phẩm lịch sử, ông đề xuất hình thành hệ thống dữ liệu văn hóa, lịch sử phục vụ tra cứu trang phục, giáp trụ, cờ hiệu, kiến trúc và sinh hoạt của từng thời kỳ. Đây là cơ sở để công nghệ hỗ trợ sáng tạo chính xác hơn, đồng thời hạn chế nguy cơ sai lệch khi tái hiện các câu chuyện lịch sử, văn hóa Việt Nam.

Số hóa dữ liệu để mở rộng không gian sáng tạo

Nếu công nghệ trình diễn tạo ra thay đổi trực tiếp trên sân khấu, thì dữ liệu số là nền tảng để đổi mới hoạt động nghệ thuật một cách lâu dài. Đây cũng là vấn đề được TS, NSND Trần Ly Ly, Bí thư Đảng ủy Học viện Múa Việt Nam, nhấn mạnh tại tọa đàm. Theo nữ NSND, chuyển đổi số cần được nhìn nhận trong toàn bộ quá trình sáng tạo, tổ chức sản xuất, phân phối, quản lý và tiếp cận công chúng. Công nghệ không chỉ làm thay đổi phương thức biểu đạt mà còn tác động đến tư duy sáng tạo, thành phần ê-kíp và cách thức tổ chức hoạt động nghệ thuật.

Một hệ thống dữ liệu nghệ thuật biểu diễn có ý nghĩa quan trọng đối với cả nghiên cứu lẫn sáng tạo. Tư liệu được lưu giữ đầy đủ sẽ giúp người nghiên cứu theo dõi sự biến đổi của từng loại hình qua các giai đoạn, hiểu rõ truyền thống để lựa chọn chất liệu cho tác phẩm mới. Những chương trình đang biểu diễn hôm nay cũng cần được lưu trữ để trở thành tư liệu cho các thế hệ sau.

NSND Trần Ly Ly. Ảnh: FBNV

NSND Trần Ly Ly. Ảnh: FBNV

Bên cạnh dữ liệu về tác phẩm, cần xây dựng hệ thống thông tin phục vụ quản lý, bán vé, nghiên cứu khán giả và đánh giá hiệu quả hoạt động. Tuy nhiên, việc đánh giá phải tính đến đặc thù từng loại hình. Một chương trình có hàng chục nghìn người xem và một buổi diễn múa rối với khoảng 100 khán giả đều có giá trị riêng; không thể chỉ căn cứ vào số lượng người xem để đánh đồng hiệu quả nghệ thuật.

NSND Trần Ly Ly kiến nghị Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xem xét xây dựng bộ tiêu chí và danh mục dự án ưu tiên; các nhà hát chủ động kiểm kê tư liệu, rà soát hạ tầng, xác định nhu cầu. Đầu tư cần phân biệt giữa hạ tầng cơ bản phục vụ lâu dài và công nghệ được lựa chọn riêng cho từng tác phẩm, đồng thời có cơ chế linh hoạt để các đơn vị lựa chọn, thuê và khai thác giải pháp phù hợp.

Từ góc độ quản lý nhà nước, bà Vũ Ngọc Trinh, Phó Cục trưởng Cục Thông tin điện tử và Chuyển đổi số, nhấn mạnh các nhà hát đang nắm giữ nguồn tài nguyên có giá trị, gồm tác phẩm, hình ảnh, bản ghi, hiện vật, tư liệu sáng tạo và hoạt động của nghệ sĩ. Các đơn vị cần chủ động đưa nhiệm vụ số hóa và xây dựng cơ sở dữ liệu vào kế hoạch hoạt động.

Việc ghi hình tác phẩm, lựa chọn những trích đoạn giới thiệu trực tuyến cũng giúp người ở xa, người Việt Nam ở nước ngoài và công chúng quốc tế có thêm cơ hội tiếp cận nghệ thuật biểu diễn Việt Nam. Tuy nhiên, quá trình số hóa phải gắn với bảo vệ bản quyền và an toàn thông tin, xác định rõ quyền của chủ thể sáng tạo và phạm vi sử dụng dữ liệu.

Bà Vũ Ngọc Trinh cũng lưu ý các nhà hát cần chủ động cung cấp chất liệu văn hóa và yêu cầu nghệ thuật cho đối tác công nghệ. Nếu tài nguyên chưa được số hóa và đưa vào khai thác, doanh nghiệp có thể sử dụng những hình ảnh sẵn có nhưng thiếu sự phù hợp với bản sắc của tác phẩm.

Nhà báo Hoàng Hà - Tổng biên tập Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật - phát biểu tại toạ đàm. Ảnh: BTC

Nhà báo Hoàng Hà - Tổng biên tập Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật - phát biểu tại toạ đàm. Ảnh: BTC

Đối với bản đồ số văn hóa Việt Nam đang được chuẩn bị ra mắt, các đơn vị nghệ thuật cần xác định nhu cầu, bố trí nhân lực quản trị, cập nhật và theo dõi quá trình khai thác dữ liệu. Đây không chỉ là yêu cầu về kỹ thuật mà còn là trách nhiệm chủ động của các thiết chế văn hóa trong việc đưa tài nguyên nghệ thuật vào đời sống đương đại.

Từ góc độ doanh nghiệp, ông Lê Anh Dũng, Giám đốc VTC Cloud hạ tầng (Tổng Công ty VTC), cho rằng dữ liệu văn hóa được số hóa sẽ tạo thêm chất liệu cho nghệ sĩ và đạo diễn xây dựng hình ảnh mang bản sắc Việt Nam. Qua phát triển sản phẩm trò chơi văn hóa, VTC đã quét, thu thập hoặc khai thác dữ liệu số hóa di tích, di sản và nhận thấy ý nghĩa của nguồn tư liệu này đối với quá trình sáng tạo sản phẩm mới.

Như vậy, số hóa không chỉ nhằm lưu giữ những gì đã có mà còn tạo nguồn nguyên liệu cho sáng tạo tương lai. Khi dữ liệu văn hóa được tổ chức khoa học, bảo đảm khả năng tra cứu và sử dụng, nghệ sĩ có thêm điều kiện tiếp cận các chất liệu truyền thống, còn doanh nghiệp công nghệ có cơ sở để phát triển những giải pháp phù hợp với yêu cầu thẩm mỹ và bản sắc văn hóa dân tộc.

(Còn tiếp)

Hà Chi

Nguồn Báo Thể Thao & Văn Hóa: https://thethaovanhoa.vn/ung-dung-cong-nghe-so-khi-san-khau-chuyen-minh-trong-ky-nguyen-so-20261022232817763.htm