Ứng dụng công nghệ số trong quản trị và phát huy giá trị di sản

Sau hợp nhất, tỉnh Ninh Bình có không gian văn hóa rộng lớn với mật độ di sản đậm đặc. Đứng trước khối lượng di sản văn hóa khổng lồ, ứng dụng công nghệ số là yêu cầu tất yếu, cấp thiết. Thời gian qua, ngành Văn hóa chủ động phối hợp với các ban, ngành, địa phương từng bước giải quyết bài toán quản lý, đồng bộ hóa dữ liệu và lan tỏa giá trị di sản qua các nền tảng công nghệ thông minh.

Thao tác máy tra cứu thông tin hiện vật 3D tại Bảo tàng tỉnh Ninh Bình cơ sở 2 ở phường Nam Định.

Thao tác máy tra cứu thông tin hiện vật 3D tại Bảo tàng tỉnh Ninh Bình cơ sở 2 ở phường Nam Định.

Đồng bộ hóa dữ liệu

Ninh Bình hiện quản lý hệ sinh thái di sản văn hóa đồ sộ, phong phú về loại hình, đa dạng về giá trị. Toàn tỉnh hiện có 1.109 di tích được xếp hạng, trong đó có 1 di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới (Quần thể danh thắng Tràng An), 10 di tích quốc gia đặc biệt, 269 di tích quốc gia, 830 di tích cấp tỉnh.

Bên cạnh đó, tỉnh sở hữu hàng ngàn di sản văn hóa phi vật thể thuộc tất cả các loại hình, trong đó có 42 di sản đã được đưa vào trong Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, 1 di sản được đưa vào danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại; 22 hiện vật, nhóm hiện vật được công nhận là Bảo vật quốc gia. Số liệu này đặt ra áp lực lớn cho ngành Văn hóa trong công tác quản lý, lưu trữ sau sáp nhập. Đồng bộ hóa trở thành nhiệm vụ trọng tâm nhằm bảo đảm tính liên thông, thống nhất trong công tác quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị các di sản.

Bảng mã quét QR thông tin di tích tại Đền Din, xã Nam Minh

Bảng mã quét QR thông tin di tích tại Đền Din, xã Nam Minh

Đồng chí Vũ Thanh Lịch, Phó Giám đốc Sở Văn hóa và Thể thao tỉnh Ninh Bình khẳng định: “Ngành đang rà soát, chuẩn hóa toàn bộ hồ sơ, bảo đảm dữ liệu chính xác, thống nhất hệ tiêu chí chung. Việc xây dựng cơ sở dữ liệu tập trung giúp kết nối hệ thống dữ liệu quốc gia về di sản và nền tảng chính quyền số. Điều này hỗ trợ trực tiếp công tác quy hoạch, tu bổ, tôn tạo và quản lý hiện trạng di sản minh bạch, khoa học”.

Thực tế cho thấy, công nghệ số góp phần tối ưu hóa không gian lưu trữ và khoa học hóa công tác quản lý hồ sơ. Tại Trung tâm Bảo tồn di tích lịch sử văn hóa Cố đô Hoa Lư, đơn vị đang quản lý khoảng 1.000 hiện vật quý, 5 bảo vật quốc gia và 50 bản sắc phong. Việc số hóa toàn diện giúp thiết lập hệ thống dữ liệu điện tử lưu trữ lâu dài, giảm thiểu tần suất tác động trực tiếp vào bản gốc. Cùng với đó, hệ thống trình chiếu 3D kết hợp công nghệ Mapping tại Nhà trưng bày “Di sản văn hóa thời Đinh - Tiền Lê” đã tái hiện sắc nét giá trị lịch sử Nhà nước Đại Cồ Việt. Công nghệ hiện đại góp phần nâng cao hiệu quả trưng bày; hỗ trợ đắc lực cho các chuyên gia trong việc đối soát dữ liệu, phục vụ công tác nghiên cứu và bảo tồn.

Tại Bảo tàng tỉnh Ninh Bình, đơn vị đang bảo quản hơn 92.000 tài liệu, hiện vật. Trong đó, không gian trưng bày tại ba cơ sở (Hoa Lư, Nam Định, Phù Vân) giới thiệu trực tiếp hơn 1.000 hiện vật tiêu biểu. Phương thức quản lý truyền thống bộc lộ nhiều giới hạn. Việc ghi chép lý lịch bằng phích, phiếu thủ công tốn thời gian. Khâu tra cứu thông tin gặp nhiều khó khăn.

Để giải quyết “điểm nghẽn”, Bảo tàng phối hợp với các đơn vị thuộc Sở Khoa học và Công nghệ triển khai nhiệm vụ khoa học cấp tỉnh giai đoạn 2025-2026. Mục tiêu cốt lõi nhằm xây dựng hệ thống thông tin số hóa, kiến tạo bảo tàng ảo. Đơn vị chọn Đại học Thái Nguyên, Công ty Gitviet, Công ty 3DART làm đối tác chuyên môn thực hiện số hóa không gian vật thể. Đến nay, 350 hiện vật, bộ sưu tập tiêu biểu được quét công nghệ 3D; 10 bảo vật quốc gia hoàn thiện bản sao kỹ thuật số; hơn 50 hiện vật có phiên bản trực tuyến 2D.

Tham quan Đền Vua Đinh Tiên Hoàng bằng công nghệ VRTOUR360 trên Website "https://baotangtinh.ninhbinh.gov.vn/" của Bảo tàng tỉnh

Tham quan Đền Vua Đinh Tiên Hoàng bằng công nghệ VRTOUR360 trên Website "https://baotangtinh.ninhbinh.gov.vn/" của Bảo tàng tỉnh

Đồng chí Đỗ Văn Hiến, Giám đốc Bảo tàng tỉnh Ninh Bình cho biết: “Công nghệ thông tin đang thay đổi công tác kiểm kê, lập hồ sơ khoa học. Cán bộ nhập từ khóa về tên gọi, số kiểm kê, chất liệu, niên đại, hệ thống lập tức truy xuất hồ sơ đầy đủ, chính xác. Việc số hóa giúp quản lý di sản khoa học, minh bạch. Bản sao kỹ thuật số bảo vệ hình ảnh hiện vật nguyên vẹn ngay cả khi bản gốc xuống cấp theo thời gian”.

Để làm chủ công nghệ, Bảo tàng tỉnh đã cử viên chức tập huấn kỹ năng số cơ bản. Đội ngũ từng bước làm chủ phần mềm quét 3D. Khâu quản trị dữ liệu được chuẩn hóa. Việc nâng cấp cổng thông tin điện tử và mạng xã hội giúp hình thành một hệ sinh thái quản lý số đồng bộ, tạo nền móng vững chắc trước khi đưa di sản tiếp cận rộng rãi với công chúng.

Đưa di sản đến gần công chúng

Khi hạ tầng dữ liệu đảm bảo, công nghệ bắt đầu phát huy vai trò chủ đạo trong việc thay đổi phương thức tiếp cận di sản. Việc đưa không gian trưng bày lên nền tảng trực tuyến giúp phục vụ hàng nghìn người xem cùng lúc, khắc phục giới hạn diện tích vật lý. Công nghệ chuyển phương thức tương tác từ xem thụ động sang trải nghiệm chủ động. Người xem thoải mái xoay lật 360 độ, soi rõ từng hoa văn qua thực tế ảo. Hình ảnh sắc nét cùng âm thanh thuyết minh tái hiện chân thực bối cảnh lịch sử, đáp ứng nhu cầu tìm hiểu văn hóa của công chúng hiện đại.

Để thống nhất thông tin, Sở Văn hóa và Thể thao định hướng chuẩn hóa nội dung tích hợp mã QR. Cơ quan quản lý nhà nước cung cấp bộ tài liệu chuẩn xác về lịch sử, giá trị di tích. Nội dung thuyết minh biên soạn ngắn gọn. Thông tin đưa lên mạng lưới số bảo đảm tính khoa học. Dựa trên nền tảng này, các địa phương chủ động triển khai số hóa di sản.

Tại Quần thể danh thắng Tràng An, giá trị địa chất, thẩm mỹ và văn hóa được số hóa chi tiết. Hàng loạt điểm quét mã QR xuất hiện tại Khu du lịch sinh thái Tràng An, Tam Cốc - Bích Động và Cố đô Hoa Lư. Khách tham quan quét mã truy cập thông tin, nâng cao trải nghiệm thực tế. Chỉ với một thao tác quét trên thiết bị di động, khách tham quan lập tức truy cập kho dữ liệu chuẩn hóa. Hệ thống tự động hiển thị thuyết minh đa ngôn ngữ kèm hình ảnh 3D về các tầng văn hóa khảo cổ. Các đoạn phim tư liệu và bản đồ tương tác giúp cụ thể hóa những giá trị địa chất phức tạp vốn khó quan sát bằng mắt thường. Người dân không còn phụ thuộc vào các bảng thông tin vật lý hạn hẹp về dung lượng.

Lễ ra mắt Công trình thanh niên cấp tỉnh Số hóa di tích lịch sử - văn hóa bằng công nghệ thực tế ảo VR360 tại di tích Đền Cây Quế, phường Thiên Trường

Lễ ra mắt Công trình thanh niên cấp tỉnh Số hóa di tích lịch sử - văn hóa bằng công nghệ thực tế ảo VR360 tại di tích Đền Cây Quế, phường Thiên Trường

Sát cánh cùng ngành Văn hóa, tuổi trẻ Ninh Bình thể hiện rõ vai trò xung kích. Các đoàn cơ sở thu thập tư liệu, thiết kế và hỗ trợ gắn mã QR tại các điểm tâm linh. Đồng chí Ngô Thị Thùy Trang, Phó Bí thư Tỉnh đoàn Ninh Bình nhận định: “Bảo tồn số gắn với phát huy giá trị di sản là giải pháp mang tính chiến lược, lâu dài. Việc ứng dụng công nghệ tái hiện không gian đa chiều giúp tuổi trẻ Ninh Bình đóng góp trí tuệ vào công tác bảo tồn. Đây là động lực quan trọng để gìn giữ các giá trị truyền thống bền vững trên môi trường mạng.”.

Cụ thể hóa mục tiêu này, trong năm 2026, Tỉnh đoàn đặt mục tiêu số hóa 12 điểm di tích gồm: Đền Trần chùa Phổ Minh, Đền Lựu Phố, Đền Cây Quế, Đình Cả, Đình Cao Đài, Chùa Hổ Sơn; Đền thờ Nguyễn Công Trứ, Khu căn cứ Quỳnh Lưu, Đền Thánh Nguyễn, Nhà tưởng niệm Tạ Uyên; Đền Lảnh Giang, Chùa Bạch Liên. Khởi động lộ trình, đến nay, Chùa Phổ Minh, Đền Cây Quế, Đình Cả đã hoàn thiện tích hợp công nghệ VR 360, cho phép người dân tương tác trực tiếp trên không gian ảo.

Giao diện công nghệ VR 360 tại đền Cây Quế, phường Thiên Trường.

Giao diện công nghệ VR 360 tại đền Cây Quế, phường Thiên Trường.

Hưởng ứng chủ trương chung, các cơ sở Đoàn khẩn trương vào cuộc. Tại phường Duy Tiên, Đoàn Thanh niên đang số hóa Nhà truyền thống cách mạng Trác Văn. Công trình nằm trong khuôn viên đền Đệ Tứ. Nơi đây từng diễn ra hội nghị thành lập Chi bộ Đông Dương Cộng sản Đảng đầu tiên của thị xã Duy Tiên cũ. Số hóa di tích mở ra không gian giáo dục truyền thống.

Đồng chí Trịnh Phương Nam, Bí thư Đoàn phường Duy Tiên khẳng định: “Đây là địa chỉ đỏ giáo dục truyền thống. Khách tham quan thường dừng chân ngắn. Bảng thông tin vật lý bộc lộ giới hạn dung lượng. Lịch sử khó truyền tải trọn vẹn qua vài dòng giới thiệu. Tích hợp mã QR phá bỏ giới hạn không gian. Thông tin cập nhật liên tục. Nền tảng đáp ứng đúng thói quen tiếp cận của công chúng hiện đại”.

Công nghệ biến xem thụ động thành tương tác sâu. Không gian trực tuyến phục vụ nhiều người cùng thời điểm. Trải nghiệm thực tế minh chứng tính ưu việt. Chị Như Ngọc, du khách tham quan Đền Cây Quế chia sẻ: “Quét mã QR, màn hình hiện ra không gian 360 độ cùng giọng thuyết minh. Tôi hiểu tường tận lịch sử di tích, công lao nhân vật được thờ phụng”.

Du khách quét mã QR tại khu di tích chùa Phổ Minh phường Nam Định

Du khách quét mã QR tại khu di tích chùa Phổ Minh phường Nam Định

Tương tự tại chùa Phổ Minh, chị Bùi Thị Mơ nhận xét: “Hình ảnh hoa văn chạm khắc hiện ra sắc nét, có thể thu phóng soi kỹ từng chi tiết nhỏ. Ở góc độ quan sát thông thường, nhiều nét tinh xảo ở trên cao rất khó nhận thấy. Công nghệ số đã mang hiện vật đến gần hơn với người xem. Hình ảnh chuẩn hóa giúp chúng tôi cảm nhận trọn vẹn giá trị nghệ thuật đặc sắc của di sản. Đây là phương thức quảng bá rất tiện lợi, đặc biệt với những khách tham quan từ xa”.

Chuyển đổi số trong công tác bảo tồn khẳng định năng lực quản lý nhà nước khoa học, hiệu quả. Hạ tầng dữ liệu số giúp chuẩn hóa hồ sơ, bảo vệ an toàn khối lượng lớn hệ thống di tích. Sự phối hợp chặt chẽ giữa ngành Văn hóa, tổ chức Đoàn Thanh niên và các địa phương đang kiến tạo cơ sở dữ liệu di sản tập trung. Môi trường mạng mở rộng khả năng quảng bá, phục vụ trực tiếp công tác giáo dục truyền thống. Đây là cơ sở vững chắc để Ninh Bình chuyển hóa nguồn lực văn hóa thành động lực phát triển kinh tế - xã hội bền vững.

Bài và ảnh: Viết Dư

Nguồn Ninh Bình: https://baoninhbinh.org.vn/ung-dung-cong-nghe-so-trong-quan-tri-va-phat-huy-gia-tri-di-san-260412094037453.html