Ứng dụng năng lượng nguyên tử tại nhiều lĩnh vực tại Việt Nam

Năng lượng nguyên tử đang được ứng dụng tại Việt Nam trong nhiều lĩnh vực, nổi bật là y tế, nông nghiệp, công nghiệp, tài nguyên và môi trường. Cùng với mở rộng các ứng dụng, Việt Nam đang đặt yêu cầu chuẩn bị nguồn nhân lực để đáp ứng giai đoạn phát triển mới của lĩnh vực này.

Mở rộng ứng dụng năng lượng nguyên tử

TS Trần Chí Thành, Viện trưởng Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam, cho biết Việt Nam đã xây dựng năng lực nghiên cứu, ứng dụng và đào tạo trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử từ nhiều thập kỷ qua.

Một góc lò phản ứng hạt nhân Đà Lạt. Ảnh: Đặng Tuấn/TTXVN

Một góc lò phản ứng hạt nhân Đà Lạt. Ảnh: Đặng Tuấn/TTXVN

Trong đó, y tế là một trong những lĩnh vực ứng dụng rõ nét nhất. Lò phản ứng nghiên cứu Đà Lạt có công suất 0,5 MW, được khôi phục, nâng cấp và đưa vào vận hành trở lại từ năm 1984 với sự hỗ trợ của các chuyên gia Liên Xô (cũ).

Sau hơn 40 năm vận hành, lò phản ứng nghiên cứu Đà Lạt trở thành một trong những cơ sở quan trọng để Việt Nam triển khai các ứng dụng kỹ thuật hạt nhân, đồng thời phục vụ đào tạo nguồn nhân lực.

Theo TS Trần Chí Thành, dù công suất chỉ 0,5 MW, Cơ quan Năng lượng nguyên tử quốc tế (IAEA) đánh giá đây là một trong những lò phản ứng có công suất thấp nhưng hoạt động hiệu quả. Hiện lò cung cấp khoảng 80% lượng dược chất phóng xạ cho các bệnh viện trên cả nước, chủ yếu phục vụ chẩn đoán và điều trị ung thư.

Việt Nam hiện có khoảng 180.000 ca ung thư mới mỗi năm, trong khi năng lực sản xuất dược chất phóng xạ trong nước còn hạn chế. Việt Nam mới sản xuất được dưới 10 loại dược chất phóng xạ để điều trị ung thư, trong khi trên thế giới có thể có hàng chục đến hàng trăm loại.

Bên cạnh lò phản ứng Đà Lạt, Việt Nam có một số máy gia tốc tại Hà Nội, Đà Nẵng và TP Hồ Chí Minh để sản xuất dược chất phục vụ chẩn đoán ung thư. Tuy nhiên, một số dược chất phục vụ điều trị vẫn phải được sản xuất từ lò phản ứng nghiên cứu.

Kỳ vọng từ lò phản ứng nghiên cứu mới

Để mở rộng năng lực nghiên cứu và sản xuất, Việt Nam đang triển khai dự án Trung tâm Nghiên cứu khoa học và công nghệ hạt nhân tại Đồng Nai, trong đó có lò phản ứng nghiên cứu mới với công suất dự kiến lớn hơn khoảng 30 lần so với lò Đà Lạt.

Theo kế hoạch được UBND thành phố Đồng Nai ban hành tháng 6/2026 về triển khai thực hiện chiến lược phát triển, ứng dụng năng lượng nguyên tử vì mục đích hòa bình đến năm 2035, tầm nhìn đến năm 2050 trên địa bàn thành phố, Đồng Nai đặt mục tiêu đến năm 2030 hoàn thành xây dựng và đưa vào vận hành an toàn Trung tâm Nghiên cứu khoa học công nghệ hạt nhân tại phường Hàng Gòn.

Theo TS Trần Chí Thành, việc đưa lò phản ứng nghiên cứu mới vào vận hành trong tương lai sẽ giúp Việt Nam tăng số lượng, mở rộng chủng loại dược chất phóng xạ phục vụ điều trị ung thư.

“Với lò mới thì mình hoàn toàn có thể sản xuất được các loại phóng xạ rất nhiều chủng loại và số lượng, cung cấp đủ cho Việt Nam và có thể xuất khẩu cho các nước khác ở khu vực”, lãnh đạo Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam chia sẻ.

Viện trưởng Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam kỳ vọng cơ sở mới tại Đồng Nai có thể góp phần hình thành một trung tâm cung cấp dược chất phóng xạ phục vụ chẩn đoán và điều trị ung thư cho cả khu vực, thay vì chỉ đáp ứng nhu cầu trong nước.

Không chỉ trong y tế, Việt Nam đã ứng dụng kỹ thuật hạt nhân và công nghệ bức xạ trong một số lĩnh vực công nghiệp. Công nghệ chiếu xạ được sử dụng phục vụ kiểm dịch, xuất khẩu; kỹ thuật bức xạ được ứng dụng để kiểm tra, đánh giá tình trạng thiết bị tại các nhà máy lọc dầu, nhiệt điện.

Trong lĩnh vực tài nguyên và môi trường, kỹ thuật đồng vị được sử dụng để nghiên cứu, đánh giá nguồn nước ngầm tại khu vực Bắc Bộ và miền Trung. Các kỹ thuật liên quan đến đánh giá ô nhiễm môi trường, ô nhiễm nước cũng đang được triển khai.

Chuẩn bị nguồn nhân lực cho giai đoạn mới

Cùng với cơ sở vật chất, nhân lực được xác định là một trong những yếu tố quan trọng để phát triển năng lượng nguyên tử.

Việt Nam đặt mục tiêu có khoảng 2.000 nhân lực năng lượng nguyên tử vào năm 2030 và 2.500 người vào năm 2035, bao gồm nhân lực quản lý, nghiên cứu phát triển, hỗ trợ kỹ thuật và vận hành.

Theo TS Trần Chí Thành, nhu cầu nhân lực được chia thành hai nhóm gồm nhân lực cho điện hạt nhân và nhân lực phục vụ các ứng dụng năng lượng nguyên tử.

Đối với nhóm nhân lực phục vụ ứng dụng năng lượng nguyên tử trong nông nghiệp, công nghiệp, môi trường, Việt Nam có thể chủ động đào tạo trong nước. Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam và Bộ Khoa học và Công nghệ có thể tổ chức các khóa đào tạo cho cán bộ để triển khai ứng dụng kỹ thuật hạt nhân và công nghệ bức xạ.

Trong khi đó, nhân lực cho điện hạt nhân có yêu cầu khác về quy mô và trình độ chuyên môn. Theo ông Thành, mỗi nhà máy điện hạt nhân cần 600 - 700 người nếu sử dụng công nghệ phương Tây hoặc gần 1.000 người với công nghệ Nga.

Do đó, Việt Nam cần xây dựng năng lực đào tạo kỹ sư công nghệ điện hạt nhân trong nước. Một trong những hướng được ông Thành đề cập là hình thành chương trình đào tạo chuyên ngành kỹ thuật hạt nhân tại một số trường đại học kỹ thuật ở Hà Nội và TP Hồ Chí Minh.

Các chương trình đào tạo cần được xây dựng theo chuẩn quốc tế, bảo đảm chất lượng. Bên cạnh nhân lực trực tiếp vận hành nhà máy, Việt Nam cũng cần chuẩn bị đội ngũ làm công tác quản lý, an toàn hạt nhân và nghiên cứu.

Theo ông Trần Quang Tuấn, Phó Cục trưởng Cục An toàn bức xạ hạt nhân, nguồn nhân lực là một trong những bài toán quan trọng khi Việt Nam bước vào giai đoạn mới về phát triển, ứng dụng năng lượng nguyên tử và điện hạt nhân.

“Năng lượng nguyên tử là lĩnh vực đặc thù, đòi hỏi trình độ chuyên môn cao và kinh nghiệm thực tiễn. Vì vậy, bên cạnh phát huy đội ngũ chuyên gia hiện có, Việt Nam cần tiếp tục bổ sung cả về số lượng, cơ cấu và năng lực chuyên sâu”, ông Tuấn chia sẻ.

Theo ông Tuấn, hợp tác quốc tế là một trong những giải pháp quan trọng giúp rút ngắn quá trình chuẩn bị nguồn nhân lực. Việt Nam đã cử cán bộ ra nước ngoài, trong đó có Nga, để đào tạo, nâng cao trình độ và tiếp cận kinh nghiệm thực tiễn.

Các chương trình đào tạo nhân lực phát triển điện hạt nhân đến năm 2035, cùng đội ngũ phục vụ quản lý nhà nước, nghiên cứu, ứng dụng và hỗ trợ kỹ thuật được kỳ vọng tạo nền tảng nhân lực cho giai đoạn tới.

Cùng quan điểm, TS Trần Chí Thành cho rằng khi Việt Nam bước vào giai đoạn phát triển mới của năng lượng nguyên tử và điện hạt nhân, bài toán nhân lực phải được giải quyết ở nhiều cấp độ.

Trước hết là đội ngũ trực tiếp tham gia các dự án điện hạt nhân, gồm nhân lực của chủ đầu tư, kỹ sư, cán bộ kỹ thuật và lực lượng vận hành nhà máy. Song song với đó là đội ngũ quản lý nhà nước về an toàn hạt nhân, nghiên cứu và hỗ trợ kỹ thuật.

Theo ông Thành, đào tạo chuyên gia hạt nhân cần nhiều năm và phải đáp ứng các tiêu chuẩn cao. Vì vậy, Việt Nam cần tận dụng năng lực của các trường đại học kỹ thuật trong nước, đồng thời đưa nhân lực tới những trung tâm nghiên cứu, đào tạo hạt nhân hàng đầu thế giới.

“Những nội dung có thể đào tạo được trong nước thì cần chủ động đào tạo trong nước; đối với những lĩnh vực chuyên sâu, Việt Nam cần đưa cán bộ tới các trung tâm nghiên cứu, cơ sở hàng đầu thế giới để học tập và làm việc thực tế”, ông Thành nhấn mạnh.

Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam cũng cho rằng những nội dung có thể đào tạo trong nước nên được ưu tiên thực hiện trong nước. Với các lĩnh vực chuyên sâu mà Việt Nam chưa đủ điều kiện, cán bộ có thể được cử ra nước ngoài đào tạo tại các cơ sở nghiên cứu và triển khai hàng đầu.

Việc chuẩn bị đồng bộ về cơ sở vật chất, nhân lực, đào tạo và hợp tác quốc tế được đặt trong yêu cầu phát triển, ứng dụng năng lượng nguyên tử không chỉ cho điện hạt nhân mà còn trong y tế, nông nghiệp, công nghiệp, tài nguyên và môi trường.

Ở góc độ quản lý, ông Trần Quang Tuấn cho rằng, cùng với chuẩn bị nhân lực, cần đẩy mạnh truyền thông để xã hội hiểu đầy đủ hơn về ứng dụng năng lượng nguyên tử, đặc biệt là các yêu cầu bảo đảm an toàn, an ninh trong quá trình phát triển và ứng dụng công nghệ này.

XL

Nguồn Tin Tức TTXVN: https://baotintuc.vn/ung-dung-nang-luong-nguyen-tu-tai-nhieu-linh-vuc-tai-viet-nam-post1390888.html